Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

Ngụy Trưng: Mười điều can vua (魏徵: 諫太宗十思疏)

Ngụy Trưng (tài liệu mạng)

Bản sớ “Mười điều nghĩ” 
can gián vua Đường Thái tông
 (Gián Thái tông thập tư sớ 諫太宗十思疏)


NGỤY TRƯNG[1] (魏徵, 580-643)
(Nguyễn Tuấn Cường dịch chú)

Thần nghe: Muốn cây mọc cao, ắt phải vững gốc; muốn nước chảy xa, ắt phải khơi nguồn; muốn quốc gia yên ổn, ắt phải tích dày đức nghĩa. Nguồn không sâu mà muốn nước chảy xa, gốc không vững mà đòi cây mọc cao, đức không dày mà muốn quốc gia yên ổn, thần tuy ngu muội, cũng biết là điều không thể, huống gì bậc minh triết? Bậc làm vua nắm giữ trọng trách quốc gia, ở ngôi cao trong thiên hạ,[2] [mà lại] không suy xét rằng lúc yên ổn phải nghĩ khi nguy khốn, tránh xa xỉ để giữ kiệm ước,[3] thì cũng như chặt gốc mà đòi cây tươi tốt, lấp nguồn mà mong nước chảy xa.
Đế vương các đời, vâng mệnh lớn từ trời,[4] có rất nhiều người làm tốt lúc ban đầu [lập nghiệp], nhưng rất ít người giữ được đến cùng. Chẳng lẽ có được thiên hạ thì dễ, mà giữ được thiên hạ lại khó?[5] Là vì khi đang ưu lo [lập nghiệp], ắt rất mực thành tâm đối đãi kẻ dưới; lúc thành công rồi, thì buông thả mình mà coi thường người khác. Rất mực thành tâm thì sẽ khiến Ngô - Việt[6] thành một mối, coi thường người khác thì sẽ khiến người thân cũng thành người dưng. Dù cai trị dân bằng hình phạt tàn khốc, trấn áp dân bằng oai phong giận dữ, thì dân cũng chỉ qua quýt để tránh hình phạt chứ không ghi nhớ lòng nhân từ [của vua], bề ngoài cung kính nhưng trong lòng không phục. Lòng oán hận không nằm ở chỗ lớn hay nhỏ, mà chỉ đáng sợ là dân [oán hận]. [Dân như nước] có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền, điều đó nên rất mực thận trọng.[7]
[Bậc làm vua] nếu thực có thể: 
<1> thấy thứ ham thích, thì nghĩ đến điều “biết đủ” để tự răn mình; 
<2> muốn xây dựng[8] cái gì, thì nghĩ đến điều “biết dừng” để yên dân;  
<3> biết mình ở ngôi cao thế nguy, thì nghĩ đến khiêm tốn mà tự rèn mình;  
<4> sợ mình tự mãn, thì nghĩ đến việc biển lớn có nguồn từ sông suối[9]
<5> thích săn bắn, thì nghĩ đến cái giới hạn chỉ bủa vây ba phía mà chừa ra một phía[10];  
<6> lo mình lười nhác, thì nghĩ đến việc phải thận trọng từ đầu tới cuối; 
<7> sợ bị che giấu, thì nghĩ đến việc thành tâm mà thu nạp kẻ dưới;  
<8> sợ bị siểm nịnh, thì nghĩ đến việc tự làm mình ngay thẳng mà loại trừ kẻ gian tà; 
<9> khi ban ơn, thì nghĩ không nên vì cao hứng mà thưởng sai; 
<10> lúc phạt tội, thì nghĩ không được bởi giận dữ mà phạt quá. 
Cả thảy mười điều nghĩ ấy, cần phải nêu cao chín đức[11]. Chọn người tài để bổ nhiệm, chọn ý hay mà đi theo, thì người có trí sẽ hết lòng tham mưu, người có sức sẽ dốc lòng hợp lực, người nhân đức sẽ lưu truyền đức tốt, người thành tín sẽ dốc sức trung trinh. Văn và võ cùng được trọng dụng, [thì có thể] rũ áo chắp tay mà thiên hạ thái bình.[12] Sao phải lao tâm khổ tứ, làm thay chức phận kẻ dưới?[13]

(Nguồn dịch: Ngụy Trưng, Gián Thái tông thập tư sớ, in trong: Âm Pháp Lỗ 阴法鲁 (chủ biên), Cổ văn quan chỉ dịch chú (tu đính bản) 古文观止译注-修订本, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, Bắc Kinh: 2000,  tr. 441-444. Trong bản dịch, những phần trong ngoặc vuông […] là của người dịch. 
Nguyễn Tuấn Cường dịch chú, tháng 7/2012. Nếu trích dẫn, đề nghị ghi rõ nguồn trích: http://tuancuonghn.blogspot.com)

Cổ văn quan chỉ dịch chú (tu đính bản), 2000, tr. 442
 
NGUYÊN BẢN HÁN VĂN:

諫太宗十思疏
魏徵
臣聞: 求木之長者,必固其根本;欲流之遠者,必浚其泉源;思國之安者,必積其德義。源不深而望流之遠,根不固而求木之長;德不厚而思國之安,臣雖下愚,知其不可,而況於明哲乎?人君當神器之重,居域中之大,不念居安思危,戒奢以儉,斯亦伐根以求木茂,塞源而欲流長者也。 
凡昔元首,承天景命,善始者實繁,能克終者蓋寡。豈取之易,守之難乎?蓋在殷憂,必竭誠以待下;既得志,則縱情以傲物。竭誠,則越為一體,傲物,則骨肉為行路。雖董之以嚴刑,振之以威怒,終苟免而不懷仁,貌恭而不心服。怨不在大,可畏惟人。載舟覆舟,所宜深慎。 
誠能見可欲,則思知足以自戒;將有作,則思知止以安人;念高危,則思謙沖而自牧;懼滿盈,則思江海而下百川;樂盤遊,則思三驅以為度;憂懈怠,則思慎始而敬終;慮壅蔽,則思虛心以納下;懼讒邪,則思正身以黜惡;恩所加,則思無因喜以謬賞;罰所及,則思無以怒而濫刑。總此十思,弘茲九德。簡能而任之,擇善而從之,則智者盡其謀,勇者竭其力,仁者播其惠,信者效其忠。文武并用,垂拱而治。何必勞神苦思,代百司之職役哉?
Tượng Ngụy Trưng (tài liệu mạng)




[1] Ngụy Trưng 魏徵 (580-643): nhà chính trị và nhà sử học kiệt xuất đầu đời Đường. Tự Huyền Thành 玄成, người huyện Cự Lộc tỉnh Hà Bắc. Thời trẻ từng là đạo sĩ, sau tham gia quân Lí Mật cuối đời Tùy, thất bại, chạy theo Đường Cao tổ Lí Uyên, sau thành cận thần của Đường Thái tông, làm quan tới chức Tả Quang Lộc đại phu, phong tước Trịnh Quốc công.
[2] Một số dị bản có thêm đoạn: “nêu cao vương quyền tôn quý, giữ mãi đức tốt vô biên” (將崇極天之峻,永保無疆之休).
[3] Một số dị bản có thêm đoạn: “đức không tích dày, tình không thắng dục” (德不處其厚,情不勝其欲).
[4] Một số dị bản có thêm đoạn: “không ai không ưu lo để đạo được sáng tỏ, thành công rồi thì đức suy vi” (莫不殷憂而道著,功成而德衰).
[5] Một số dị bản có thêm đoạn: “Khi xưa thừa tài năng để có được thiên hạ, bây giờ lúc giữ thiên là thì tài năng không đủ, là tại sao?” (昔取之而有餘,今守之而不足,何也?).
[6] Ngô và Việt thời Xuân Thu vốn là những nước đối địch nhau.
[7] Một số dị bản có thêm đoạn: “Dùng dây thừng mục để đánh xe chạy nhanh, có thể lơ là được không?” (奔車朽索,其可忽乎?).
[8] Xây dựng: ý nói kiến thiết, xây dựng công trình thổ mộc.
[9] Biển lớn có nguồn từ sông suối: nguyên văn “giang hải hạ bách xuyên” 江海下百川, tức là muốn ra đến sông biển lớn thì phải đi từ các dòng sông suối nhỏ.
[10] “Bủa vây ba phía mà chừa ra một phía”: nguyên văn là “tam khu” 三驱, chữ trong Kinh Dịch: “Vương dĩ tam khu” 王以三驱 (làm vua thì phải tam khu). Có hai cách giải thích chữ “tam khu”, một là khi săn bắn chỉ vây ba mặt, chừa lại một mặt để chim thú còn có đường thoát, không tận diệt chim thú; hai là một năm chỉ đi săn ba lần.
[11] Chín đức 九德 (cửu đức): theo thiên Cao Dao mô trong Kinh Thư, chín đức gồm: “khoan dung mà nghiêm túc, mềm mỏng mà có ý riêng, có ý nguyện mà cung kính, có trị mà vẫn kính cẩn, thuận hòa mà cả quyết, thẳng thắn mà ôn hòa, giản dị mà liêm khiết, quả đoán mà đốc thực, mạnh mẽ mà có nghĩa” ‘宽而栗、柔而立、愿而恭、乱而敬、扰而毅、直而温、简而廉、刚而塞、彊而义’.
[12] Một số dị bản có thêm đoạn: “quân vương với bề tôi không hiềm khích, thì có thể tận hưởng thú vui du ngoạn, có thể thọ như cây tùng cây bách. [Vua có thể] chơi đàn, rũ áo, chắp tay, không nói mà trị yên dân” (君臣無事,可以盡豫遊之樂,可以養松喬之壽,鳴琴垂拱,不言而化).
[13] Một số dị bản có thêm đoạn: “để thân thể phải nhọc nhằn, làm tổn hại đến cái đạo lớn “vô vi”” (役聪明之耳目,亏无为之大道哉).

1 nhận xét: