Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

Văn hóa chữ Hán trong thế kỉ XX (dịch)

Tổng thuật nghiên cứu văn hóa chữ Hán 
 trong thế kỉ XX

CHƯƠNG QUỲNH
(Nguyễn Tuấn Cường dịch)



Tóm tắt: Trong thế kỉ XX, cùng với sự phát sinh và phát triển của văn hóa học chữ Hán, việc nghiên cứu về văn hóa chữ Hán đã thể hiện những đặc điểm khác nhau tùy theo từng thời kì. Bài viết này nhìn lại một cách giản lược tình hình nghiên cứu trong thế kỉ XX về văn hóa chữ Hán, xuất phát từ ba phương diện là tìm hiểu về lí luận văn hóa chữ Hán, nghiên cứu văn hóa thông qua chữ Hán, và sử dụng văn hóa để phân tích chữ Hán, để từ đó tổng kết những thành tựu và bất cập của việc nghiên cứu trong thế kỉ XX về văn hóa chữ Hán, đồng thời giới thiệu vắn tắt và thuật bình một số công trình nghiên cứu tiêu biểu.
Từ then chốt: Chữ Hán (汉字), văn hóa (文化).
Tác giả: Chương Quỳnh 章琼, PGS., Trung tâm Hán ngữ, thuộc Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc.
Nguồn dịch: 章琼,《二十世纪汉字文化研究评述》,in trong 《语言教育与研究》(Ngữ ngôn giáo dục dữ nghiên cứu), số 2/2002, tr. 73-79. Dịch xong tháng 9/2007. Trong bản dịch, những phần trong ngoặc vuông […] là của người dịch.
*
*          *
Lan Đình Tự của Vương Hi Chi (bản lâm mô của Chử Toại Lương)
 Chữ Hán là một bộ phận của văn hóa truyền thống, sự hình thành và phát triển của chữ Hán không thể tách rời bối cảnh lớn của văn hóa truyền thống dân tộc Trung Hoa. Người xưa ngay từ rất sớm đã chú ý đến mối liên hệ giữa chữ Hán với văn hóa truyền thống, vì trong văn hiến cổ còn bảo tồn được rất nhiều nội dung [thể hiện việc] căn cứ vào văn hóa để thuyết giải chữ Hán, hoặc thông qua chữ Hán để tìm hiểu về các hiện tượng văn hóa có liên quan[1], nhưng chỉ đến thế kỉ XX người ta mới bắt đầu nghiên cứu một cách có ý thức và có lí luận về văn hóa chữ Hán.
Nửa đầu thế kỉ XX, cùng với sự tiến bộ trong việc đi sâu nghiên cứu về giáp cốt văn và kim văn, giá trị của văn hóa chữ Hán cũng dần dần được nhận thức; rất nhiều học giả bắt đầu dựa vào giáp cốt văn và kim văn để tìm hiểu lịch sử thời cổ đại, đưa ra hàng loạt suy luận về các hiện tượng văn hóa trong xã hội thời tiền sử, xã hội thời Ân Chu; có thể [sử dụng giáp cốt văn và kim văn làm công cụ để] chứng minh những điều sử sách đã ghi chép, mà cũng có thể đưa ra cách nhìn nhận mới, cách giải thích mới.
Từ thập niên 1950 đến thập niên 1970, việc nghiên cứu văn hóa chữ Hán về cơ bản rơi vào trạng thái đình trệ, chỉ có vài bài nghiên cứu được đăng tải công khai, nói gì đến tính đặc sắc. Từ thập niên 1980, đặc biệt là từ giữa thập niên 1980 trở đi, cùng với việc nghiên cứu ngôn ngữ học văn hóa ngày càng thịnh hành, mối quan hệ giữa chữ Hán với văn hóa ngày càng được coi trọng, các nghiên cứu có liên quan cũng theo bước đà ấy mà được triển khai toàn diện, cho thấy một quang cảnh phồn vinh chưa từng có trước đó. Sự phồn vinh này chủ yếu thể hiện qua ba phương diện: một là tăng mạnh số lượng công trình nghiên cứu, thời gian này có hơn chục cuốn chuyên luận và hơn 160 bài nghiên cứu ra đời, chiếm 80% số công trình nghiên cứu trong thế kỉ XX về văn hóa chữ Hán; hai là các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này có phạm vi rất rộng, trong thời kì này người ta không còn thỏa mãn với việc chỉ thông qua một vài chữ để tái lập hoặc chứng minh về lịch sử cổ đại và diện mạo xã hội thời cổ đại nữa, mà tìm hiểu mối quan hệ giữa chữ Hán với văn hóa từ nhiều phương hướng và nhiều góc độ, nội dung tìm hiểu đã đề cập đến các phương diện như hệ thống chữ Hán, thuộc tính của chữ Hán, cũng đề cập đến các phương diện của văn hóa truyền thống; ba là người ta bắt đầu chú trọng tìm hiểu lí luận, cố gắng từ lí luận để làm rõ giá trị văn hóa của chữ Hán, mối quan hệ giữa chữ Hán với văn hóa, chứng minh rằng tại sao chữ Hán và văn hóa có thể chứng minh cho nhau. Chính trong thời kì này, qua việc cày xới cần mẫn và cùng nhau nỗ lực của các học giả, một ngành học mới đã ra đời: văn hóa học chữ Hán.
Nhìn từ tổng thể, việc nghiên cứu trong thế kỉ XX về văn hóa chữ Hán chủ yếu có ba phương diện: tìm hiểu lí luận văn hóa chữ Hán; đi từ chữ Hán để nghiên cứu văn hóa; đi từ góc độ văn hóa học để nghiên cứu chữ Hán. Dưới đây chúng tôi sẽ xuất phát từ ba phương diện này để khảo sát tình hình khái quát và đặc điểm của việc nghiên cứu trong thế kỉ XX về văn hóa chữ Hán, tổng kết và phân tích các thành tựu cũng như tồn tại trong việc nghiên cứu văn hóa chữ Hán trong một thế kỉ nay, đồng thời cũng giới thiệu văn tắt và thuật bình về một số chuyên luận tiêu biểu[2].
Thư pháp của vua Tống Huy Tông (Triệu Cật)
  1.         Tìm hiểu về lí luận văn hóa chữ Hán
Là một ngành khoa học vừa ra đời, văn hóa học chữ Hán vừa khác Hán tự học, lại vừa khác những nghiên cứu về các bình diện văn hóa khác, nó có đối tượng nghiên cứu đặc định của mình, có lí luận dẫn đường và phương pháp nghiên cứu tương ứng với đối tượng ấy. Lí luận văn hóa chữ Hán tìm hiểu các vấn đề tính chất, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu của văn hóa học chữ Hán, cũng như mối quan hệ giữa ngành này với các ngành khoa học có liên quan. Việc tìm hiểu lí luận này là tiêu chí đánh dấu việc nghiên cứu văn hóa chữ Hán đã đi vào chuyên sâu, đạt đến độ chín muồi, cũng là điều kiện trực tiếp nhất và không thể thiếu để hình thành ngành khoa học văn hóa học chữ Hán.
Việc nghiên cứu lí luận văn hóa chữ Hán khởi đầu khá muộn, mãi từ sau những năm 1990 mới xuất hiện các công trình đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống về văn hóa chữ Hán và văn hóa học chữ Hán từ bình diện lí luận. Trong những công trình này, tiêu biểu nhất phải kể đến Giản luận Hán tự văn hóa học 简论汉字文化学của ba tác giả Hà Cửu Doanh何九盈, Hồ Song Bảo胡双宝, Trương Mãnh张猛, Chữ Hán và văn hóa 汉字与文化 của Vương Ninh 王宁, Hán tự văn hóa tổng luận汉字文化综论 của Lưu Chí Cơ 刘志基.
Bài viết Giản luận Hán tự văn hóa học của Hà Cửu Doanh, Hồ Song Bảo, Trương Mãnh dù chưa “[cung cấp cho] văn hóa học chữ Hán một định nghĩa hoàn chỉnh, có thể được mọi người chấp nhận”, nhưng đã trình bày một cách khá toàn diện về tính chất và đối tượng nghiên cứu của ngành văn hóa học chữ Hán. Bài viết cho rằng, văn hóa học chữ Hán là một ngành khoa học giao thoa đa diện lấy chữ Hán làm hạt nhân, nhiệm vụ của nó “một là minh giải ý nghĩa văn hóa mà chữ Hán tự thân bao hàm với tư cách hệ thống kí hiệu và hệ thống thông tin; hai là tìm hiểu mối quan hệ giữa chữ Hán với văn hóa Trung Quốc, cũng tức là từ chữ Hán để nghiên cứu văn hóa Trung Quốc, từ góc độ văn hóa học để nghiên cứu chữ Hán”. Bài viết còn phân tích giá trị lí luận của văn hóa học chữ Hán, khu biệt sự dị đồng giữa văn hóa học chữ Hán với Hán tự học, với ngôn ngữ học văn hóa.
Bài viết Chữ Hán và văn hóa của Vương Ninh tuy không trình bày toàn diện về ngành văn hóa học chữ Hán, nhưng đã giải thích khá rõ ràng về mối quan hệ giữa chữ Hán với văn hóa. Bài viết cho rằng, “chữ Hán và văn hóa” là trỏ mối quan hệ giữa tự hình và hệ thống chữ Hán với văn hóa, mà trung tâm nghiên cứu là tự hình và hệ thống chữ Hán; giữa “chữ Hán và văn hóa” có mối quan hệ như giữa một vấn đề văn hóa này với một vấn đề văn hóa khác; [mối quan hệ giữa] “chữ Hán và văn hóa” có thể nhìn từ góc độ vĩ mô, cũng có thể nhìn từ sự thật cụ thể, nhưng đầu tiên cần phải tìm hiểu từ sự thật cụ thể. Bài viết còn lấy ví dụ về mối quan hệ giữa chữ Hán với “văn hóa nấu nướng”, tổng kết về năm phương thức để chữ Hán truyền đạt thông tin văn hóa, đó là: mô hình cấu trúc nguyên thủy của chữ Hán; dòng mạch diễn biến phát triển hình thể của chữ Hán; lịch sử tồn vong của từng tự phù cụ thể; vòng quay phân hóa phái sinh của chữ Hán; hệ thống biểu ý của cấu trúc chữ Hán.
Trong cuốn Hán tự văn hóa tổng luận, Lưu Chí Cơ có quan điểm khác với hai nghiên cứu trên. Ông cho rằng quan điểm “từ chữ Hán để nghiên cứu văn hóa Trung Quốc, từ góc độ văn hóa học để nghiên cứu chữ Hán” của nhóm Hà Cửu Doanh là thiếu tính khoa học, không đủ để khái quát tính chất và đối tượng của văn hóa học chữ Hán, dễ dẫn đến nhận thức phiến diện. Ông cho rằng: “Ngành nghiên cứu văn hóa chữ Hán vừa không phải đơn thuần lấy các hiện tượng văn hóa lịch sử để giải thích chữ Hán với tư cách là công cụ truyền đạt ngôn ngữ, vừa không đơn giản coi chữ Hán là tài liệu để tìm hiểu các vấn đề về lịch sử văn hóa”, mà là “một ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu là các cơ chế văn hóa nằm ngoài chức năng truyền đạt ngôn ngữ của chữ Hán, cũng chính là các mối liên hệ giữa chữ Hán với các bình diện văn hóa Trung Quốc ngoại trừ việc truyền đạt ngôn ngữ”. Vì vậy, văn hóa học chữ Hán có hai mặt nhiệm vụ: một là nghiên cứu quy luật quan hệ giữa sự cấu tạo tự thân của chữ Hán với rất nhiều hiện tượng văn hóa; hai là tìm hiểu nội dung của những mối quan hệ này (tại mục “Nhiệm vụ của nghiên cứu văn hóa chữ Hán” trong cuốn sách này, ông tuyên bố việc nghiên cứu văn hóa học chữ Hán có ba nhiệm vụ: một là làm sáng tỏ những bí ẩn của chữ Hán, giúp người ta hiểu biết và sử dụng chữ Hán một cách chính xác trọn vẹn; hai là cung cấp phương pháp, tài liệu, và thành quả mới cho các lĩnh vực khoa học nghiên cứu văn hóa khác; ba là tăng cường xây dựng khoa học, tiếp tục đưa việc nghiên cứu chức năng văn hóa của chữ Hán đi vào quỹ đạo của hệ thống khoa học).
Lưu Chí Cơ cũng không đồng ý với quan điểm “chữ Hán và văn hóa” “chuyên chỉ mối quan hệ giữa tự hình và hệ thống chữ Hán với văn hóa” của Vương Ninh, ông cho rằng nghiên cứu văn hóa chữ Hán cần bao gồm ba phương diện là tự hình, tự nghĩa, và tự âm. Trong Hán tự văn hóa tổng luận, ông đã phê bình việc nghiên cứu trước đây về văn hóa chữ Hán “chỉ chú trọng cấu trúc tự hình khi quan sát chữ Hán, dường như giữa chữ Hán với văn hóa chỉ có con đường quan hệ về tự hình”, rồi ông từ ba góc độ “nội hàm văn hóa tự hình”, “nội hàm văn hóa tự nghĩa”, “nội hàm văn hóa tự âm” lần lượt thảo luận về mối liên hệ giữa hình-âm-nghĩa của chữ Hán với các bình diện văn hóa truyền thống.
Về tính chất, đối tượng nghiên cứu, và nghiệm vụ nghiên cứu của văn hóa học chữ Hán, bài Giản luận Hán tự văn hóa học của nhóm Hà Cửu Doanh và bài Chữ Hán và văn hóa của Vương Ninh về căn bản là có cùng quan điểm, quan điểm này có tính tiêu biểu nhất định, cũng phù hợp với tình hình thực tế trong nghiên cứu văn hóa chữ Hán thế kỉ XX. Lưu Chí Cơ dù cho rằng “đi từ chữ Hán để nghiên cứu văn hóa Trung Quốc, đi từ góc độ văn hóa học để nghiên cứu chữ Hán” đều không thực sự thuộc về lĩnh vực nghiên cứu văn hóa học chữ Hán, nhưng ông cũng thừa nhận rằng giữa hai mảng ấy với hai mặt nhiệm vụ của văn hóa học chữ Hán mà ông chủ trương cũng chỉ có sự khu biệt về mặt lí luận, còn trong thực tiễn thì khó có thể phân chia rạch ròi. Không có sự khác nhau căn bản nào giữa phần trình bày về nhiệm vụ nghiên cứu văn hóa chữ Hán trong mục “Nhiệm vụ của nghiên cứu văn hóa chữ Hán” của Lưu Chí cơ với quan điểm của nhóm Hà Cửu Doanh cũng như Vương Ninh.
Đến nay vẫn chưa thể ngã ngũ xem rốt cuộc thì việc nghiên cứu văn hóa chữ Hán có nên bao gồm cả tự nghĩa và tự âm hay không. Có thể nói, Vương Ninh nhấn mạnh cần coi tự hình và hệ thống cấu hình của chữ Hán là trung tâm để nghiên cứu văn hóa chữ Hán, đó có thể coi là một thái độ thận trọng. Chúng ta biết rằng, với tư cách là một hệ thống kí hiệu ở dạng viết để ghi chép ngôn ngữ, chữ Hán là một thể thống nhất giữa hình-âm-nghĩa. Nhưng trong ba yếu tố hình-âm-nghĩa, âm và nghĩa đều là kế thừa từ mặt ngôn ngữ, thuộc về khái niệm “từ” trong ngôn ngữ, chỉ có hình thể mới thuộc về bản thể của chữ Hán. Nếu việc nghiên cứu văn hóa chữ Hán bao gồm cả mặt âm và nghĩa, thì chắc chắn phải liên quan tới “từ” trong ngôn ngữ, chắc chắn phải liên quan tới vấn đề ranh giới giữa văn hóa học chữ Hán với văn hóa học ngôn ngữ Hán. Trên thực tế, các công trình trong thế kỉ XX nghiên cứu về văn hóa chữ Hán phần lớn đều thảo luận về mối quan hệ giữa cấu hình chữ Hán với các hiện tượng liên quan đến văn hóa, rất ít khi thoát li tự hình để bàn về mối quan hệ giữa tự nghĩa và tự âm với các hiện tượng văn hóa. Ba tác giả Hà Cửu Doanh, Hồ Song Bảo, Trương Mãnh tuy cho rằng việc nghiên cứu văn hóa chữ Hán không nên bao gồm tự nghĩa, nhưng họ rất chú ý sự khu biệt giữa “tự nghĩa” với “từ nghĩa”, nhấn mạnh rằng “nếu coi nhẹ sự khu biệt này, nghiên cứu văn hóa chữ Hán sẽ có thể trở thành nghiên cứu văn hóa tiếng Hán với phạm vi không thật xác định”[3].
Ngoài các công trình nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về ngành văn hóa học chữ Hán, còn có một số bài viết thảo luận về các vấn đề chức năng văn hóa và sự diễn giải văn hóa của chữ Hán, cũng thuộc về  phạm trù nghiên cứu lí luận văn hóa chữ Hán.
Việc nghiên cứu chức năng văn hóa của chữ Hán chủ yếu thảo luận về thuộc tính văn hóa của chữ Hán, tìm hiểu các vấn đề như tại sao có thể từ chữ Hán để nghiên cứu văn hóa, các hiện tượng văn hóa tiềm ẩn trong chữ Hán. Về phương diện này có các bài viết quan trọng như Thuộc tính văn hóa của văn tự 文字的文化属性 của Trương Công Cẩn 张公瑾, Chức năng văn hóa của chữ Hán 汉字的文化功能 của Chu Lương Chí 朱良志 và Chiêm Tự Tá 詹绪佐, Giải đọc tâm lí học lịch sử văn hóa đối với văn tự cổ dân tộc Hán 汉民族古文字的文化历史心理学解读 của Thân Tiểu Long 申小龙
Có khá ít bài viết diễn giải văn hóa của chữ Hán, chủ yếu có bài Phương pháp văn hóa học để nghiên cứu chữ Hán 汉子研究的文化学方法 của Trương Ngọc Kim 张玉金, Diễn giải chữ Hán và truyền thống văn hóa 汉字阐释与文化传统 của Hoàng Đức Khoan 黄德宽 và Thường Sâm 常森. Các bài viết này chủ yếu thảo luận xem tại sao lại cần phải đi từ góc độ văn hóa để nghiên cứu chữ Hán, và làm thế nào để nghiên cứu chữ Hán từ góc độ văn hóa.
Ngoài ra, đáng chú ý còn có các công trình Chữ Hán với văn hóa Hoa Hạ 汉字与华夏文化 của Lưu Chí Thành 刘志诚, Hán tự văn hóa dẫn luận 汉字文化引论 do Tô Tân Xuân 苏新春 chủ biên, Chữ Hán và văn hóa 汉字与文化 của Hạ Hữu Linh 贺友龄, Trung Quốc Hán tự văn hóa đại quan 中国汉字文化大观do Hà Cửu Doanh, Hồ Song Bảo, Trương Mãnh chủ biên… Đặc biệt là cuốn Trung Quốc Hán tự văn hóa đại quan dù chưa đi sâu thảo luận các vấn đề lí luận trong nghiên cứu văn hóa chữ Hán, nhưng nội dung của nó đã đề cập đến rất nhiều phương diện nghiên cứu văn hóa chữ Hán, quan điểm cũng tương đối công bằng, thẳng thắn, có thể coi là một sự tổng kết về nghiên cứu văn hóa chữ Hán.
Thư pháp Nhật Bản
2.         Đi từ chữ Hán để nghiên cứu văn hóa
Lột tả những thông tin văn hóa ẩn chứa trong chữ Hán, rồi căn cứ vào những thông tin văn hóa ấy để nghiên cứu về các hiện tượng văn hóa hữu quan, đó là con đường chủ đạo trong toàn bộ việc nghiên cứu văn hóa chữ Hán trong thế kỉ XX. Việc nghiên cứu văn hóa chữ Hán trước thập niên 1980 về cơ bản đều xuất phát từ chữ Hán để nghiên cứu văn hóa, rất ít khi đi từ góc độ văn hóa để nghiên cứu chữ Hán, càng không đề cập đến các vấn đề lí luận nghiên cứu văn hóa chữ Hán. Trong thời kì này, nhất là từ sau khi thành lập nước Trung Quốc mới [1949], tuyệt đại đa số công trình nghiên cứu đều căn cứ vào các hiện tượng văn hóa thuộc các hình thái xã hội thời tiền sử, thời Ân Chu được ghi chép trong các tài liệu văn tự cổ, cũng như các hiện tượng văn hóa đương thời để tiến hành diễn giải và phán đoán.
Quách Mạt Nhược 郭洙若 trong Nghiên cứu văn tự giáp cốt: Giải thích các chữ ‘thần’, ‘tể’ 甲骨文字研究- 释臣宰Trung Quốc cổ đại xã hội nghiên cứu 中国古代社会研究 (Nghiên cứu xã hội cổ đại Trung Quốc) đã thông qua khảo chứng các chữ “thần , dân , tể ”, cho rằng thời Tây Chu cũng như Hi Lạp và La Mã, đều là xã hội chế độ nô lệ điển hình, ông viết: “Nhà văn tự học cần phải biết rằng, chỉ cần thông qua một vài chữ cũng có thể viết được một bộ sách lịch sử thống trị giai cấp[4]. Thực Am tự thuyết 实庵字说 của Trần Độc Tú 陈独秀 thì khảo chứng các chữ “dân , thần , tể , manh , , , lệ , bộc , đồng , thiếp ”, cho rằng nô lệ ở phương Đông là gia nô [nô lệ giúp việc trong nhà], không phải nô lệ sản xuất, “khác với Hi Lạp và La Mã vốn giao cho nô lệ tất cả việc sản xuất. Thật là hết sức sai lầm khi cho rằng ở Trung Quốc cổ đại, tiếp sau xã hội thị tộc là xã hội nô lệ, như ở Hi Lạp và La Mã xưa. Hi Lạp và La Mã đi từ chế độ nô lệ đến chế độ phong kiến; Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản thì đều đi từ phương thức sản xuất châu Á đến chế độ phong kiến”, bài viết cho rằng thời Tây Chu là chế độ theo phương thức sản xuất châu Á. Về sau Quách Mạt Nhược lại viết Phản bác bài ‘Thực Am tự thuyết’ 驳实庵字说, nhấn mạnh rằng “nô, tì, lệ, bộc, thiếp, đồng” là gia nô, còn “thần, dân, tể” thì là nô lệ sản xuất, nhóm sau đông hơn nhóm trước rất nhiều, một lần nữa ông nhấn mạnh thời Tây Chu là xã hội nô lệ.
Sau thập niên 1980, việc đi từ chữ Hán để nghiên cứu văn hóa đã thể hiện những điểm đặc sắc khác trước, không những mở rộng phạm vi nghiên cứu, từng bước hoàn thiện phương pháp nghiên cứu, mà còn sử dụng thêm nhiều tài liệu văn tự khác; đối tượng khảo sát có thể là một chữ hoặc một vài chữ, cũng có thể là một bộ chữ, thậm chí toàn thể chữ Hán.
Việc khảo sát toàn thể chữ Hán để tìm hiểu các hiện tượng văn hóa tương quan là lĩnh vực thu hút nhiều bài viết nhất. Như bài Lăng kính độc đáo để nghiên cứu mĩ học Trung Quốc: chữ Hán 中国美学研究的独特视镜:汉字 của Chu Lương Chí và Chiêm Tự Tá, thông qua các luận chứng được diễn giải cụ thể đã chỉ ra: trong chữ Hán có một hệ thống nguyên tắc chỉnh thể bao gồm mô thức tư duy, con đường suy luận, đặc điểm sáng tạo, quan niệm giá trị, hệ thống nguyên tắc này có tác dụng quan trọng đối với việc xây dựng lí luận mĩ học Trung Quốc; việc tìm ra quan niệm thẩm mĩ trong chữ Hán không những giúp chúng ta hiểu biết về các hoạt động thẩm mĩ và ý thức thẩm mĩ của con người trong thời đại mà lịch sử không đủ bằng chứng ghi chép, mà còn giúp cho việc nghiên cứu lịch sử mĩ học từ thời Tần Hán trở đi được sâu sắc hơn, tỉ mỉ hơn. Bài viết Từ giáp cốt văn nhìn nhận tư duy sáng tạo thời kì sớm của nhân loại 从甲骨文看人类早期的创造思维 của Ngô Trường Canh 吴长庚 cho rằng ba loại hình mà “thuyết tam thư” của Đường Lan 唐兰 (gồm tượng hình, tượng ý, hình thanh) tổng kết nên đã thể hiện ba giai đoạn phát triển tư duy nhân loại, tức là tư duy theo sự vật cụ thể, tư duy trừu tượng bằng tổng hợp các sự vật hiện tượng, và tư duy khái niệm coi trọng cả âm thanh và hình tượng; tư duy trong ba giai đoạn này đều có các đặc điểm là: tính hình tượng, tính miêu tả, tính nguyên tắc “suy bụng ta ra bụng người” 以己度人 (dĩ kỉ đạc nhân), tính tượng trưng của “cấu tượng tư duy” 思维构象
Bộ thủ của chữ Hán thường là nghĩa phù 义符 (tức hình phù 形符) của chữ Hán, các hiện tượng văn hóa liên quan đến bộ thủ nào thường được phản ánh khá tập trung trong nhóm chữ chứa bộ thủ ấy, điều này khiến chúng ta có thể coi một bộ thủ nào đó là tài liệu để khảo sát các hiện thượng văn hóa có liên quan. Như bài viết Từ một số chữ có bộ nữ nhìn nhận phong tục cưới xin thời cổ đại của dân tộc Hán 从部分女旁字看汉民族古代婚俗 của Lưu Chí Cơ đã căn cứ trên tài liệu là một nhóm chữ có bộ nữ để khảo sát tục lệ cưới xin thời cổ đại của tộc Hán, [kết quả cho thấy] nội dung [của bộ nữ] liên quan đến bốn phương diện: hiện tượng quần hôn thời nguyên thủy, cướp hôn, mua bán hôn nhân, và sự phân biệt cao thấp trong quan hệ hôn nhân. Bài Chữ có bộ trùng và nội hàm văn hóa của chúng 虫部字及其文化蕴含của Lí Hải Hà 李海霞 thông qua khảo sát các chữ thuộc bộ trùng đã chỉ ra: các chữ bộ trùng trải qua quá trình diễn hóa hàng trăm hàng nghìn năm, mặt hình có phân hợp, mặt âm có lưu biến, mặt nghĩa có thay đổi mở rộng, nhưng chúng có một cái gốc văn hóa không thể chặt đứt: từ một góc độ độc đáo, các chữ bộ trùng phản ánh việc sùng bái linh vật của người xưa trong thời đại totem (vật tổ), phản ánh truyền thuyết thần thoại, phản ánh sự nhận thức và phân loại động vật có liên quan của dân tộc Hán xưa và nay. Trong thời kì này vẫn có những bài viết thông qua phân tích tự hình của một hoặc vài chữ cổ để tìm hiểu các hiện tượng liên quan đến văn hóa, nhưng số lượng bài viết khá ít. Như bài Phương tiện giao thông đường thủy đời Thương phản ánh qua giáp cốt văn 甲骨文所见商代水上交通工具 của Ngô Hạo Khôn 吴浩坤 thông qua phân tích tự hình chữ chu và những chữ có bộ chu trong giáp cốt văn, rồi cho rằng chữ chu thời Thương hoàn toàn không có nghĩa là thuyền độc mộc, mà là thuyền ván gỗ được ghép từ các mảnh ván, lòng thuyền thấp, đầu và đuôi thuyền nhô cao; dụng cụ chèo thuyền thời Thương có các loại: sào chống thuyền (), mái chèo (舵桨), và buồm gió (风帆). Bài Vũ đạo cổ đại phản ánh trong văn tự cổ 古文字中所见的古代舞蹈 của Ôn Thiếu Phong温少峰 và Viên Đình Đống 袁庭栋 thì lấy tài liệu là cổ văn tự, xuất phát từ tự hình cổ văn tự để thảo luận cụ thể mấy đặc điểm về vũ đạo cổ đại; ngày nay khi quan sát văn tự cổ, ta vẫn có thể nhận biết chúng như các bức tranh vẽ động tác vũ đạo.
Ngoài các bài viết, thời kì này còn xuất hiện một số chuyên luận xuất phát từ chữ Hán để nghiên cứu văn hóa. Các cuốn Mạn đàm văn hóa chữ Hán 汉字文化漫笔 của Tào Tiên Trạc 曹先擢, Chữ Hán cổ và ngọn nguồn văn hóa Trung Quốc 古汉字与中国文化源 do Lí Linh Phác 李玲璞 chủ biên, Văn tự Trung Quốc và tư tưởng Nho học 中国文字与儒学思想 của Tang Khắc Hòa 臧克和… đều xuất phát từ chữ Hán để đi vào thảo luận các hiện tượng văn hóa hữu quan.
Cuốn Mạn đàm văn hóa chữ Hán của Tào Tiên Trạc gồm 60 bài viết ngắn độc lập với nhau, nhưng đều từ chữ Hán để thảo luận các vấn đề, thông qua phân tích hình-âm-nghĩa của chữ Hán, thông qua việc ứng dụng chữ Hán để  tìm hiểu văn hóa Hoa Hạ.
Cuốn Chữ Hán cổ và ngọn nguồn văn hóa Trung Quốc do Lí Linh Phác chủ biên xuất phát từ tự hình cụ thể, thông qua tự nguyên học và ngữ nguyên học của các nhóm chữ Hán để nghiên cứu, đi vào vòng văn hóa lịch sử ở trạng thái động của người xưa, để nhìn rõ đặc trưng tư duy, tâm lí thẩm mĩ và ý thức triết học của người xưa, từ đó tìm hiểu dấu vết của triết học văn hóa cổ đại.
Cuốn Văn tự Trung Quốc và tư tưởng Nho học của Tang Khắc Hòa mượn văn tự để chứng minh lịch sử, lấy văn tự để khảo sát kinh điển, mong muốn thông qua khảo sát và giải thích hệ thống cổ văn tự trong tiếng Hán để tìm hiểu xem bối cảnh lịch sử nào đã làm nảy sinh các quan niệm căn bản trong tư tưởng Nho học, từ đó giúp chúng ta nhìn nhận về cơ sở tổng quan và quá trình tái thiết của tinh thần Nho học. 

3.         Đi từ góc độ văn hóa học để nghiên cứu chữ Hán
Những nghiên cứu loại này thường vượt ra ngoài bản thể văn tự học, chuyển sang hướng tận dụng các thành quả nghiên cứu vốn có của các ngành nghiên cứu văn hóa khác, sử dụng phương pháp và cái nhìn mới mẻ để quan sát, phân tích chữ Hán, tìm hiểu các đặc điểm về nhiều phương diện như: cấu hình, tự dụng và quá trình diễn biến phát triển của cá thể các tự phù trong chữ Hán, thậm chí toàn bộ hệ thống chữ Hán.
Tận dụng các thành quả nghiên cứu vốn có của các ngành nghiên cứu văn hóa khác để khảo sát và giải thích các tự hình cá biệt, đây là mô hình nghiên cứu đã có từ lâu, trong Thuyết văn còn bảo tồn rất nhiều nội dung [mà ở đó tác giả Hứa Thận đã] căn cứ vào các hiện tượng văn hóa hữu quan để thuyết giải về tự hình và tự nghĩa (xem chú thích số 1). Nhưng trước những năm 1980, những nghiên cứu loại này còn thiếu định hướng lí luận rõ ràng và tự giác, còn mang tính vụn vặt lẻ tẻ, không đủ thành hệ thống. Từ sau những năm 1980, người ta đã có ý thức lí luận khá rõ ràng, đã nhận thức đầy đủ rằng: muốn khảo sát và giải thích cổ văn tự, xác định cấu trúc hình thể cũng như âm và nghĩa mà cổ văn tự thể hiện, thì ngoài việc căn cứ vào quy luật nội bộ và con đường diễn tiến của sự diễn biến phát triển chữ Hán, còn cần phải đặt trong đại bối cảnh văn hóa truyền thống dân tộc Trung Hoa để tận dụng tối đa các thành quả nghiên cứu về các vấn đề văn hóa khác, như tình hình thực tế của ngôn ngữ đương thời, mức độ phát triển của nền chính trị, kinh tế và các phương diện khác (như kiến trúc, nghệ thuật…) của xã hội đương thời. Bài Bàn về chữ ‘cá ’ và chữ ‘tống ’ trong sách ‘Thuyết văn giải tự’ 说说文中的个字宋字 của Lục Trung Phát 陆忠发 đã tận dụng các thành quả nghiên cứu kiến trúc cổ đại để diễn giải khá hợp lí về cấu trúc và tự nghĩa của các chữ , tống . Bài Bàn về hiện tượng gộp chung và biến mất trong văn tự cổ 论古文字的兼并与消亡 của Hạ Lục 夏渌 căn cứ vào tình hình xã hội đương thời được phản ánh qua bốc từ [trong giáp cốt văn] để lật đổ định đề của Quách Mạt Nhược, đoán định rằng trong giáp cốt văn có hai chữ nam [có nghĩa] khác nhau: một chữ nam là “nam tước” như trong các tước “công, hầu, bá, tử, nam”, một chữ nam là “nam giới” như trong “nam nữ”.
Căn cứ trên các thành tựu vốn có về các vấn đề văn hóa khác để tìm hiểu các đặc điểm nhiều mặt như cấu hình, tự dụng, quá trình diễn biến phát triển của chữ Hán, đây là hướng nghiên cứu nổi lên mạnh mẽ từ sau thập niên 1980 với rất nhiều bài viết, nhìn chung có thể chia thành ba loại: một là từ góc độ khoa học tư duy để phân tích chữ Hán; hai là từ góc độ tâm lí học để giải thích chữ Hán; ba là căn cứ vào thành quả nghiên cứu về các vấn đề văn hóa khác (trỏ những ngành ngoài khoa học tư duy và tâm lí học) để nghiên cứu chữ Hán.
Các bài viết xuất phát từ góc độ khoa học tư duy để nghiên cứu chữ Hán thường đều vận dụng lí luận của khoa học tư duy, thông qua phân tích các đặc trưng tư duy của dân tộc Hán để nghiên cứu mô thức cấu trúc chữ Hán, tìm hiểu đặc điểm cấu hình chữ Hán và quy luật diễn biến phát triển của nó. Bài viết Đặc trưng tâm trí của cấu hình chữ Hán 汉字构形的心智特征 của Tôn Ung Trường 孙雍长 cho rằng, cấu hình chữ Hán có đặc trưng tâm trí dân tộc rất mạnh mẽ, đặc trưng tư duy dân tộc Hán có ảnh hưởng rất lớn tới cấu hình chữ Hán. Bài viết chia thành các phần “lập tượng dĩ tận ý立象以尽意 (đặt ra [hình] tượng để nói hết ý), “thần tự chi hình神似之形 (vẽ hình cho giống cái thần), “phát minh đích cộng tính发明的共性 (tính chất chung của phát minh), “nhân bản vị人本位 (lấy con người làm bản vị), “tư biện dữ ước định tục thành思辨与约定俗成 (suy nghĩ phân tích và hình thành theo quy ước) để thảo luận về ảnh hưởng của các đặc trưng tư duy dân tộc Hán tới cấu hình chữ Hán. Bài viết Bàn về tư duy biện chứng trong cấu hình chữ Hán 论汉字构形的辩证思维 của Thân Tiểu Long cho rằng, cấu hình của văn tự biểu ý thể hiện một cách trực quan nhất phương thức tư duy của dân tộc Hán; chữ Hán từ tượng hình đến hội ý, từ hội ý đến giả tá, từ giả tá cuối cùng hướng về hình thanh, phương thức cấu trúc đó cũng như phương thức biểu ý đều thể hiện một đặc điểm kiến tạo “nhị hợp”, thể hiện rõ tính biện chứng trong phương thức tư duy của dân tộc Hán. Bài Sự phát triển tư duy và sự hình thành hệ thống kí hiệu chữ Hán 思维的发展与汉字符号体系的形成 của Vạn Nghiệp Hinh 万业馨 xuất phát từ góc độ phát triển tư duy, căn cứ vào các tư liệu cổ văn tự vốn có, tham chiếu phương pháp ghi chép ngôn ngữ của văn tự tượng hình Nạp Tây 纳西 để phân tích và tìm hiểu xem chữ Hán đã phát triển thành một hệ thống văn tự thành thục như thế nào. Bài viết đã phân tích các phương thức hình thành liên tưởng trong phương pháp ghi chép sự việc thời nguyên thủy, phân tích ảnh hưởng của các phương thức ấy tới việc hình thành văn tự; trong quá trình tìm hiểu các kí hiệu tượng hình và các kết hợp ngữ âm, bài viết đã tiếp thu thành quả nghiên cứu của khoa học tư duy và tâm lí học, cho rằng các kí hiệu tượng hình ban đầu hoàn toàn không phải là sự giản lược của hình vẽ, mà là sự tái hiện của biểu tượng kí ức, bài viết cũng nhấn mạnh: việc vận dụng giả tá đã thúc đẩy sự hình thành một hệ thống văn tự thành thục để ghi chép ngôn ngữ.
Các bài viết xuất phát từ góc độ tâm lí học để nghiên cứu chữ Hán chủ yếu thảo luận các vấn đề đặc trưng cấu hình, phân biệt tự hình, quá trình diễn biến phát triển hình thể, và tính ổn định về hình thể của chữ Hán. Bài Bàn về việc nghiên cứu tự hình chữ Hán bằng phương pháp tâm lí học 论汉字字形的心理学研究 của Lưu Minh 刘鸣 đã chú trọng thảo luận về tâm lí tri nhận đặc trưng hình thể chữ Hán, tự hình chữ Hán, thảo luận về phương pháp nghiên cứu tâm lí học đối với tự hình chữ Hán, rồi tổng kết các thành tựu và thiếu sót của việc nghiên cứu hiện nay về lĩnh vực này. Bài Vấn đề tâm lí trong nhận biết văn tự 文字识别的心理问题 của Ngô An Kì 吴安其 xuất phát từ góc độ tâm lí nhận biết văn tự và tâm lí tri nhận thị giác, đề xuất rằng việc nhận biết (thức biệt 识别) các kí hiệu văn tự biểu ý như chữ Hán thường không liên quan gì đến nét bút, mà liên quan chặt chẽ đến hai cái khuôn của tự hình: khuôn toàn chữ 整字模板, và khuôn đường viền 轮廓模板; khuôn đường viền của chữ Hán có tác dụng gợi ý quan trọng về ngữ nghĩa trong quá trình nhận biết nhanh. Bài Tâm lí văn hóa Hán với tính ổn định của văn tự Hán 汉文化心理与汉文字的稳定性 của Mộc Kính Hồ 木镜湖 và Lưu Hưng Quốc 刘兴国 thì xuất phát từ góc độ văn hóa truyền thống Trung Quốc để làm sáng tỏ nguyên nhân của tính ổn định lâu dài của chữ Hán. Các tác giả cho rằng, đặc tính văn hóa truyền thống Trung Quốc đã tạo ra các nhân tố mang tính hình vẽ, tính đồng nguyên, và tính kinh nghiệm trong tâm lí văn hóa Hán, các nhân tố tâm lí này thể hiện tập trung trong việc sáng chế, phái sinh, và sử dụng chữ Hán, khiến cho việc sáng chế và sử dụng chữ Hán có tinh thần văn hóa ấy; mặt khác, tính ổn định lâu dài, tính bảo thủ và tính truyền thừa vốn có của văn hóa truyền thống Trung Quốc cũng đã tạo điều kiện cho chữ Hán được ổn định lâu dài.
Các bài viết căn cứ vào thành quả nghiên cứu về các vấn đề văn hóa khác để nghiên cứu chữ Hán đã đề cập đến nhiều đặc điểm văn hóa, nội dung thảo luận cũng rất rộng, khó có thể liệt kê hết số bài viết này. Bài Bàn về thẩm mĩ thị giác của cấu trúc chữ Hán 论汉字构成的视觉美 của Lưu Tán Ái刘赞爱 đã đề xuất các lí luận về “trường” , “lực tâm lí” 心理力, “trung tâm thị giác” 视觉中心, “tri giác nhìn lầm” 错视知觉… của sự cấu tạo chữ Hán, cho rằng mỗi chữ Hán đều là một dạng thức thị giác, nó có chuẩn tắc mĩ học là sự cân bằng, đối xứng, có nhịp điệu, điều hòa. Bài viết cho rằng, việc vận dụng tâm lí học hiện đại và lí luận mĩ học để nghiên cứu chữ Hán có thể giúp đi sâu hơn vào quá trình nhận thức về mô thức cấu trúc chữ Hán và cảm ứng tâm lí với chữ Hán, lột tả được những điều tiềm ẩn mang tính nghệ thuật của việc viết chữ Hán. Bài Phân tích thống kê về cấu trúc chữ Hán 汉子结构的统计分析 của Bành Thụy Tường 彭瑞祥 lấy tài liệu là 3000 chữ in trong sách giáo khoa tiểu học, chia mỗi chữ thành bốn góc phần tư, rồi lần lượt thống kê hình dáng cấu tạo nét bút ở góc trên bên trái và góc dưới bên phải, những chữ có hình dáng giống nhau hoặc gần nhau thì quy thành một loại, gọi là “mô thức con”. Kết quả thống kê cho thấy: nhóm chữ có “mô thức con” về góc trên bên trái hoạt động mạnh hơn nhóm góc dưới bên phải; nhưng hình dáng của nhóm góc trên bên trái khá phức tạp, ngoài những nét bút của bộ thủ tạo thành “mô thức con”, thì nhóm này luôn mang những nét bút khác, trong khi hình dáng của nhóm góc dưới bên phải lại khá đơn giản, ngoài những nét bút của bản thân bộ thủ thì không có nét nào khác. Từ đó, bài viết cho rằng, khi thiết kế hệ thống nhận biết tự động cho chữ Hán, nếu lấy căn cứ phân loại ban đầu là “mô thức con” về góc dưới bên phải thì sẽ thuận lợi hơn. Bài Ảnh hưởng của công cụ viết tới cấu trúc tự hình chữ Hán 书写材料对汉字字形结构的影响 của Lí Ân Giang 李恩江 cho rằng, bút lông, dao khắc, thẻ tre trúc, mai rùa xương thú, lụa, giấy… cho dù không thể quyết định hoặc thay đổi quy luật tổng thể và xu thế tổng thể của hình thể và diễn biến cấu trúc chữ Hán, nhưng lại có thể tạo ra rất nhiều ảnh hưởng cụ thể trong quá trình diễn biến [của chữ Hán], trực tiếp khiến cho chữ Hán có hình dáng như ngày nay. Ví dụ như giảm thiểu các bộ phận cấu tạo chữ Hán, tăng thêm chữ hợp thể và khiến tiếp tục giảm thiểu tính tượng vật và tăng thêm tính kí hiệu của chữ Hán, những chuyển biến này chủ yếu do bút lông tạo ra, còn sự hình thành các nét bút theo thể chữ lệ và khải thì “bắt nguồn trực tiếp từ việc buông phóng bút lông”.
Nhìn chung, việc nghiên cứu văn hóa chữ Hán trong thế kỉ XX đã có bước phát triển dài, cùng với sự cần mẫn cày xới của rất nhiều học giả, một ngành khoa học mới đã ra manh nha ra đời: văn hóa học chữ Hán. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng, với tư cách là một ngành khoa học non trẻ, ngành văn hóa học chữ Hán còn có rất nhiều vấn đề tồn tại trong lĩnh vực nghiên cứu của mình. Thứ nhất, việc nghiên cứu về lí luận còn rất mỏng yếu, rất nhiều vấn đề lí luận của ngành này vẫn còn chưa rõ ràng. Thứ hai, do thiếu tư duy lí luận, nên công tác nghiên cứu cụ thể cũng thiếu cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Thứ ba, đội ngũ học giả nghiên cứu văn hóa chữ Hán còn chưa đủ lớn mạnh, những người chuyên tâm nghiên cứu về lĩnh vực này thì đáng tiếc là càng ít ỏi hơn. Tóm lại, với tư cách là một ngành khoa học mới xuất hiện, ngành văn hóa học chữ Hán còn phải trông chờ thêm nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu để có thể tiếp tục phát triển và hoàn thiện.
CHƯƠNG QUỲNH
(Nguyễn Tuấn Cường dịch)
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.                  曹先擢. 1992. 《汉字文化漫笔》.语文出版社.
2.                  陈独秀. 1937. “实庵字说”. 《东方杂志》, 34卷7期.
3.                  何九盈, 胡双宝, 张猛. 1990. “简论汉字文化学”. 《北京大学学报》, 第6期.
4.                  何九盈, 胡双宝, 张猛. 1995.《中国汉字文化大观》. 北京大学出版社.
5.                  贺友龄. 1999.《汉字与文化》. 警官教育出版社.
6.                  黄德宽, 常森. 1995. “汉字阐释与文化传统”. 《学术界》, 第1期.
7.                  李恩江. 1991. “书写材料对汉字字形, 结构的影响”.《古汉语研究》, 第1期.
8.                  李海霞. 1992. “虫部字及其文化蕴含”. 《文史知识》, 第9期.
9.                  李玲璞 主编. 1997.《古汉字与中国文化源》. 贵州人民出版社.
10.             刘    鸣. 1993. “论汉字字形的心理学研究”. 《华南师范大学学报》, 第1期.
11.             刘赞爱. 1993. “论汉字构成的视觉美”. 《江西师范大学学报》, 第3期.
12.             刘志诚. 1995.《汉字与华夏文化》. 巴蜀书社.
13.             刘志基. 1989. “从部分女旁字看汉民族古代婚俗”.《民间文艺季刊》, 第1期.
14.             刘志基. 1996. 《汉字文化综论》. 广西教育出版社.
15.             陆忠发. 1995 “说《说文》中的个字宋字”. 《杭州师范学院学报》, 第5期.
16.             木镜湖, 刘兴国. 1993. “汉文化心理与汉文字的稳定性”. 《思想战线》, 第4期.
17.             彭瑞祥. 1982. “汉子结构的统计分析”. 《心理学报》, 第4期.
18.             申小龙. 1993. “汉民族古文字的文化历史心理学解读”. 《云南民族学院学报》, 第2期.
19.             申小龙. 1994. “论汉字构形的辩证思维”. 《江苏社会科学》, 第1期.
20.             苏新春 主编. 1996.《汉字文化引论》 . 广西教育出版社.
21.             孙雍长. 1994. “汉字构形的心智特征”. 《古汉语研究》, 第2期, 第3期.
22.             万业馨. 1989. “思维的发展与汉字符号体系的形成”. 《云南大学学报》, 第6期.
23.             王    宁. 1991. “汉字与文化”. 《北京师范大学学报》, 第6期.
24.             吴安其. 1993. “文字识别的心理问题”. 《民族语文》, 第3期.
25.             吴长庚. 1987. “从甲骨文看人类早期的创造思维”.《上饶师专学报》, 第2期.
26.             吴浩坤. 1995. “甲骨文所见商代水上交通工具”. 《陕西师范大学学报》, 第12期.
27.             温少峰, 袁庭栋. 1981. “古文字中所见的古代舞蹈”. 《成都大学学报》, 第2期.
28.             夏    渌. 1991. “论古文字的兼并与消亡”. 《武汉大学学报》, 第2期.
29.             张公瑾. 1991. “文字的文化属性”. 《民族语文》, 第1期.
30.             张玉金. 1992. “汉子研究的文化学方法”. 《辽宁师范大学学报》, 第5期.
31.             臧克和. 1996. 《中国文字与儒学思想》. 广西教育出版社.
32.             朱良志, 詹绪佐. 1988. “中国美学研究的独特视镜-汉字”. 《安徽师范大学学报》, 第3期.
33.             朱良志, 詹绪佐. 1994. “汉字的文化功能”. 《天津师范大学学报》, 第1期.



[1] Như trong Thuyết văn giải tự 说文解字 có rất nhiều nội dung căn cứ vào các hiện tượng văn hóa để thuyết giải tự hình và tự nghĩa. Xem thêm Lục Tông Đạt 陆宗达, Thuyết văn giải tự thông luận 说文解字通论, chương 3: Các tư liệu liên quan đến tình hình xã hội cổ đại được bảo tồn trong ‘Thuyết văn giải tự’ 说文解字中所保存的有关古代社会状况的资料, Bắc Kinh Xuất bản xã, 1981, tr. 157-213.
[2] Có một vài chuyên luận đề cập đến nội dung thuộc cả ba phương diện, để tiện trình bày, chúng tôi cũng căn cứ vào đặc điểm của các chuyên luận ấy để quy vào một phương diện nào đó.
[3] Hà Cửu Doanh, Hồ Song Bảo, Trương Mãnh, Trung Quốc Hán tự văn hóa đại quan - Bạt 中国汉字文化大观-跋, Bắc Kinh đại học Xuất bản xã, 1995.
[4] Quách Mạt Nhược, Nghiên cứu văn tự giáp cốt: Giải thích các chữ ‘thần’, ‘tể’, in trong Quách Mạt Nhược toàn tập - Khảo cổ biên 郭沫若全集 - 考古编 (quyển nhất), Khoa học Xuất bản xã, 1982; Trung Quốc cổ đại xã hội nghiên cứu, in trong Quách Mạt Nhược toàn tập - Lịch sử biên 郭沫若全集 - 历史编 (quyển nhất), Nhân dân Xuất bản xã, 1982.

Nguồn: Nguyễn Tuấn Cường (tuyển chọn, dịch  chú), Hán học Trung Quốc thế kỉ XX (văn tự, ngôn ngữ, văn hiến, giáo dục, tư tưởng, triết học), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010, tr. 117-134. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét