Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

Thần Trí Thể: Chơi chữ kiểu Tô Đông Pha (bài viết cũ)


Note: Đoản văn dưới đây được viết từ hồi 2004, gửi cho tờ Sông Hương trong Huế, không được đăng. Hi vọng rằng nguyên nhân không phải do bài này "động chạm" đến một "người của Sông Hương" ^^.
---------- 

MỘT BÀI THƠ CHƠI CHỮ HÁN ĐỘC ĐÁO
CỦA TÔ THỨC ĐỜI TỐNG

Nguyễn Tuấn Cường
[2004]

Trong cuốn Chơi chữ Hán Nôm, những bài thơ độc đáo[1] (viết tắt: CCHN), soạn giả Hải Trung đã giới thiệu một bài thơ chơi chữ của Tô Thức 蘇軾 (tức Tô Đông Pha 蘇東坡) đời Tống có tên là “Trường đình” (theo soạn giả). Đây là một bài thơ chơi chữ rất thú vị, rất đặc biệt, và cũng rất… khó đọc, khó hiểu.
Theo tra cứu của tôi, bài thơ này đã được đưa vào trong Từ nguyên 辭源[2], một cuốn từ điển rất có uy tín của Trung Quốc. Căn cứ vào Từ nguyên, xin lần lượt góp bàn về ba vấn đề mà tôi cảm thấy còn chưa yên tâm với cách hiểu của soạn giả cuốn CCHN: tên bài thơ, cách chơi chữ trong bài thơ, và việc dịch bài thơ này.
 
(Minh họa cách viết bài thơ trong Từ nguyên, sđd)
1. Về tên bài thơ
Theo Từ nguyên: “Trong niên hiệu Hi Ninh đời Tống Thần tông, sứ giả nước Liêu đến, tự khoe có tài làm thơ, vua sai Tô Thức ra tiếp đãi sứ, sứ Liêu đem thơ vặn hỏi Tô, Tô nói: “Phú thi diệc dị sự dã, quan thi nan sự nhĩ” (Làm thơ cũng là việc dễ, xem thơ mới là việc khó). [Tô Thức] bèn làm bài thơ Vãn thiếu 晚眺 để cho sứ Liêu xem...” (Từ nguyên, sđd).
Như vậy, theo Từ nguyên, cần sửa lại hai điểm trong CCHN:
Thứ nhất, tên chính thức của bài thơ là Vãn thiếu chứ không phải “Trường đình”. Tên Vãn thiếu (Xa ngắm cảnh chiều) là hoàn toàn hợp lí, bởi toàn bài thơ tả khung cảnh một buổi chiều. Dị danh “Trường đình” xuất hiện có lẽ do người đời sau không biết chính xác tên bài thơ nên đã lấy hai chữ đầu tiên trong bài làm tên bài, giống như việc lấy những chữ đầu thiên để đặt tên cho nhiều thiên trong Luận ngữ, Mạnh tử, Kinh Thi...
Thứ hai, soạn giả viết: “Người xưa có câu ‘Phú thi diệc dị sự, quan thi phả nan’ (ngâm thơ là việc dễ, xem thơ mới là khó), có lẽ câu này rất thích hợp với bài thơ sau đây” (CCHN, sđd, tr. 50). Câu nói cũng đã thành dị bản trên (thực ra là Phú thi diệc dị sự dã, quan thi nan sự nhĩ 賦詩亦易事也, 觀詩難事耳, theo Từ nguyên), cần trả lại cho đúng tác giả của nó là Đông Pha cư sĩ Tô Thức, chứ không chỉ là là “người xưa” một cách chung chung.
          2. Về cách chơi chữ trong bài thơ
Theo Từ nguyên, cách chơi chữ trong bài thơ này có tên là “thần trí thể” 神智體 (thể thần trí) và giải thích rằng: “Thể thần trí: một thể thơ gần với chơi chữ. Do nó có thể làm khởi phát thần trí của người ta nên gọi như vậy”. Từ nguyên đã lấy bài thơ này ra làm ví dụ minh hoạ cho “thể thần trí” và giải thích rõ về cách đọc bài thơ, tạm dịch như sau:
         “Bài thơ này viết theo ý, chỉ có 12 chữ, có chữ viết dài, có chữ viết ngắn; có chữ viết ngang, có chữ viết nghiêng; có chữ viết quay ngược [theo chiều ngang], có chữ viết đảo ngược [theo chiều dọc]. […]
Về cách viết:
Chữ ĐÌNH 亭viết rất dài [cho nên đọc là TRƯỜNG ĐÌNH 長亭].
Chữ CẢNH 景 viết rất ngắn [đọc là ĐOẢN CẢNH 短景].
Chữ HOẠ 畫 viết thiếu  chữ “nhân” 人  ở phần dưới [đọc là VÔ NHÂN HOẠ 無人畫[3]].
Chữ LÃO 老 viết khá to [đọc là LÃO ĐẠI 老大[4]].
Chữ THA 拖 viết ngang [đọc là HOÀNH THA 橫拖].
Chữ CUNG 筇 có bộ “trúc” 竹 viết rất gầy [đọc là SẤU TRÚC CUNG 瘦竹筇].
Chữ THỦ 首 viết quay lại [đọc là HỒI THỦ 回首].
Chữ VÂN 雲… [nghĩa là mây] trên là chữ “vũ” 雨, dưới là chữ “vân” 云 [nghĩa là nói], cự li giữa trên dưới khá xa [đọc là ĐOẠN VÂN 斷雲, nghĩa là đám mây bị đứt đoạn].
Chữ MỘ 暮  có bộ “nhật” 日 phía dưới viết nghiêng [đọc là TÀ NHẬT MỘ 斜日暮].
          Chữ GIANG 江 viết thành giang [có bộ “công” ở bên trái bị gãy khúc, đọc là KHÚC GIANG 曲江].
Chữ TIẾU 蘸 viết đảo ngược [đọc là ĐẢO TIẾU 倒蘸].
Chữ PHONG 峰 có bộ “sơn” 山 viết nghiêng [đọc là TRẮC SƠN PHONG 側山峰]” 
(Từ nguyên, sđd, những phần trong ngoặc vuông […] là do tôi chú thêm cho rõ nghĩa).
Như vậy, công thức đọc chung cho 12 chữ mà thi sĩ Tô Đông Pha đưa ra là ghép mỗi chữ sau tính từ hoặc cụm từ chỉ tính chất của cách viết chữ đó, trừ trường hợp chữ LÃO ghép ngược thành LÃO ĐẠI chứ không phải “đại lão” (theo Từ nguyên).
Theo hướng dẫn trong Từ nguyên, ta có thể đọc bài thơ như sau:

晚眺

長亭短景無人畫

老大橫拖瘦竹筇

回首斷雲斜日暮

曲江倒蘸側山峰

 

Vãn thiếu 

Trường đình đoản cảnh vô nhân hoạ,
Lão đại hoành tha sấu trúc cung.
Hồi thủ đoạn vân tà nhật mộ,
Khúc giang đảo tiếu trắc sơn phong.

3. Về việc dịch bài thơ
Soạn giả đã dịch nghĩa như sau:
“(Ngôi) đình rộng, cảnh ngắn, không có người vẽ lại
Ông lão đi ngang (trên đường) kéo gậy trúc
Quay đầu, mây đã tan, bóng chiều đã xế
Đoạn sông, (có) đỉnh núi nghiêng soi (xuống sông) như một dấu chấm” (CCHN, sđd, tr 52).
Tôi thử đưa ra cách hiểu khác về câu thơ thứ 2 và thứ 4:
Về câu 2: soạn giả ngắt câu là Lão đại hoành // tha sấu trúc cung nên đã hiểu hoành theo nghĩa động từ và dịch thành “đi ngang”. Tôi cho rằng chữ 橫 hoành ở đây là phó từ làm trạng ngữ, nó đứng trước và bổ nghĩa cho động từ 拖 tha (còn đọc là đà, nghĩa là “kéo”). Vậy ta nên ngắt câu là Lão đại // hoành tha // sấu trúc cung, và dịch là Ông già kéo ngang cây gậy trúc [khô] gầy.
Về câu 4: Từ nguyên ghi các nghĩa của từ Khúc giang như sau:
1. là tên dòng nước (sông):
            + chỉ đoạn sông Trường Giang phía nam Dương Châu, tỉnh Giang Tô
            + tức sông Tiền Đường, vốn tên là Chiết Giang
            + tức Khúc Giang trì, nay thuộc tỉnh Thiểm Tây
2. tên huyện Khúc Giang, thuộc tỉnh Quảng Đông.
(Từ nguyên, sđd, tr. 787, cột 2 (lược dịch).
Thi thánh Đỗ Phủ đã có bài Khúc Giang với đôi câu thơ đã trở thành bất hủ: Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,  Nhân sinh thất thập cổ lai hi “酒債常行處有, 人生七 十古來稀 (Nợ rượu thường thì đến đâu cũng có [người đòi], Đời người sống đến bảy mươi xưa nay hiếm). “Khúc Giang” trong thơ Đỗ Phủ là Khúc Giang trì, nay nằm cách huyện Trường An tỉnh Thiểm Tây mười dặm về phía đông nam[5].
Tôi cho rằng Khúc Giang trong bài Vãn thiếu cũng chỉ tên dòng nước (sông) như Từ nguyên đã ghi nhận, nhưng tạm thời chưa xác định được cụ thể là dòng nước (sông) nào[6].
Từ đó, câu 4 nên ngắt câu như sau: Khúc Giang  // đảo tiếu // trắc sơn phong. Đây là một kiểu cấu trúc câu được ngữ pháp tiếng Hán (hiện đại) gọi là câu tồn hiện (存現句), trong đó Khúc Giang đóng vai trò trạng ngữ chỉ nơi chốn, trắc sơn phong 側山峰 (đỉnh núi nghiêng) là tân ngữ, còn đảo tiếu 倒蘸 là một cấu trúc trạng - động, chữ tiếu 蘸 (còn đọc là trám) mang nghĩa động từ là “chấm vào nước”, ở đây dùng theo nghĩa bóng là “in bóng xuống nước” chứ không phải là “một dấu chấm” theo nghĩa danh từ. Vì vậy câu 4 nên dịch là: Đỉnh núi nghiêng in ngược [bóng] xuống dòng Khúc Giang.
Như vậy, với những chứng lí trên, tôi xin đưa ra một cách dịch mới như sau:
           Dịch nghĩa:

XA NGẮM CẢNH CHIỀU

Không ai vẽ lại cảnh ngắn về ngôi đình dài[7],
Ông già kéo ngang cây gậy trúc [khô] gầy.
Ngoảnh đầu [nhìn thấy] nơi trời chiều đã xế bóng [có một] đám mây đứt đoạn,
Đỉnh núi nghiêng in ngược [bóng] xuống dòng Khúc Giang.
Dịch thơ:       
Đình dài cảnh ngắn không người vẽ,
Ông lão kéo ngang gậy trúc gầy.
Ngoảnh đầu, mây đứt nơi chiều xế,
Đỉnh núi nghiêng soi Khúc Giang này[8].

Phụ lục: 
Toàn văn mục từ “Thần trí thể” 神智體 trong Từ nguyên, sđd.



Viết xong tháng 10 năm 2004
NTC



[1] Hải Trung, Chơi chữ Hán Nôm những bài thơ độc đáo, Huế: Nxb Thuận Hoá, 2002, tr. 48-54: Tô Đông Pha và bài thơ “Trường Đình”.
[2] Từ nguyên 辭源, Bắc Kinh: Thương vụ ấn thư quán, 1998, tr. 2275, cột 3-4.
[3] Chữ thập 十  trong chữ điền 田  của chữ hoạ 畫  có thể viết là chữ nhân 人  theo lối dị thể. Hiện chưa tìm thấy chữ dị thể này trong các bộ gõ chữ Hán.
[4] Soạn giả Hải Trung đọc là “Đại lão” (CCHN, sđd, trang 51, 52).
[5] Theo Đỗ Phủ thi tuyển 杜甫詩選, Phùng Chí 馮至 biên tuyển, Bắc Kinh: Nhân dân văn học xuất bản xã, 1962, trang 20.
[6] Soạn giả dịch “khúc giang” thành “đoạn sông” thì chưa chỉnh về mặt ngữ pháp, nếu là “giang khúc” thì mới dịch được như vậy.
[7] Cảnh ngắn về ngôi đình dài: có thể hiểu hình tượng thơ này như sau: do trời đã xế chiều, mặt trời ngả về tây nên bóng ngôi đình đổ dài (= trường đình), nhưng thời gian tồn tại của khung cảnh đó không lâu (= đoản cảnh), bởi mặt trời sắp lặn.
[8] Xin tham khảo thêm bản dịch thơ của Hải Trung:
“Đình dài, cảnh ngắn không người vẽ,
Ông lão đi đường kéo gậy qua.
Đầu ngoảnh, chiều tà nghiêng bóng xế,
Non cao in bóng khúc sông nhoà”. (CCHN, sđd, trang 52)

1 nhận xét:

  1. trường đình chỉ "thập lý trường đình" ngày xưa
    đoản cảnh, theo baidu ^^ là chỉ ngày sắp tàn
    http://baike.baidu.com/item/%E6%99%9A%E7%9C%BA

    Trả lờiXóa