Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2011

Thảo luận về khởi nguyên của chế độ khoa cử TQ (dịch)

"phao" - tài liệu quay cóp của sĩ tử trong khoa cử đời Thanh :-))
[...]
1. Những thảo luận về vấn đề khởi nguyên của chế độ khoa cử

Chế độ khoa cử khởi nguồn từ bao giờ? Về vấn đề này đã nổ ra một cuộc thảo luận trong giới học thuật Trung Quốc ngay từ thập niên 1930. Khi ấy, Đặng Tự Vũ 邓嗣禹 viết xong bài Trung Quốc khoa cử chế độ khởi nguyên khảo 中国科举制度起源考 rồi gửi xin ý kiến của hai học giả Trương Nhĩ Điền 张尔田 và Du Đại Cương 俞大纲. Không lâu sau, hai học giả này hồi thư thảo luận. Sau đó, Đặng Tự Vũ đem bài viết của mình và thư hồi âm của hai học giả ấy cùng đăng trên số 1, quyển 2 của tờ Sử học niên báo xuất bản năm 1934. Đặng Tự Vũ nói trong bài viết: “Người đời nói về khởi nguyên của khoa cử thường có hai thuyết: một thuyết cho rằng khởi thủy từ thời Tùy, thuyết khác cho rằng khởi thủy từ thời Đường. Từ thời Đường Tống về sau thì ngày càng có nhiều người chủ trương rằng khoa cử khởi thủy từ đời Tùy; nhưng vào thời Đường thì vẫn còn tồn tại hai thuyết, chưa thống nhất với nhau”. Tiếp theo, ông cho rằng sự xuất hiện của chế độ khảo thí và khoa tiến sĩ phải là tiêu chí cho sự ra đời của chế độ khoa cử, mà việc chọn kẻ sĩ ở đời Tùy đã “có tình trạng khảo thí chung, lại đặt thêm khoa tiến sĩ, thực sự bắt đầu vào đời Tùy, cho nên truy về nguồn gốc thì phải đẩy đến đời Tùy”. Về sau, trong cuốn Trung Quốc khảo thí chế độ sử 中国考试制度史, ông lại nhắc tới cái lí do “bắt đầu từ đời Tùy”[1]. Trương Nhĩ Điền ngoài việc tán đồng sâu sắc với những kết luận của họ Đặng, ông còn chỉ ra rằng khoa tiến sĩ đời Tùy vẫn còn có sách vở ghi chép lại, vì vậy chế độ khoa cử chắc chắn là được sáng lập vào đời Tùy. Hai học giả trên đều chủ trương thuyết “đời Tùy”. Du Đại Cương thì lại “khá nghi ngờ” vấn đề đời Tùy đặt khoa tiến sĩ, ông cũng phản đối việc coi thời điểm đặt khoa tiến sĩ là thời điểm bắt đầu chế độ khoa cử, ông nói: “Nếu cho rằng phép đối sách trong sát cử đã là chế độ khảo thí hoàn chỉnh, thì phải truy nguyên khởi điểm tới đời Lưỡng Hán. Nếu cho rằng triều đình mở khoa đợi người, sĩ tử nộp đơn tự thi (đầu điệp tự thí 投牒自试), lúc ấy mới có thể nói là chế độ khảo thí hoàn chỉnh, thì nó phải bắt đầu từ thời Đường, không thể nói là bắt đầu từ đời Tùy và ổn định vào đời Đường được”. Rõ ràng là ông nghiêng hẳn về thuyết “đời Đường”, và ông cũng là người đầu tiên đề xuất kiến giải rất có giá trị rằng: sĩ tử “nộp đơn tự thi” là tiêu chí chủ yếu cho khởi nguyên của chế độ khoa cử.
Như vậy, về thời điểm bắt đầu của chế độ khoa cử đã xuất hiện cục diện song tồn hai thuyết “đời Tùy” và “đời Đường”.
Song, trong đại đa số học giả trong và ngoài nước khi ấy, bất kể là các sử gia lớp trước như Phạm Văn Lan 范文澜, Tiễn Bá Tán 翦伯赞, Chu Cốc Thành 周谷城, Tiền Mục 钱穆, Trần Dần Khác 陈寅恪, Đặng Chi Thành, 邓之诚, Trần Đông Nguyên 陈东原, Lã Tư Miễn 吕思勉, Lã Chấn Vũ 吕振羽… hay các học giả nổi tiếng ở nước ngoài nghiên cứu lịch sử Trung Quốc như Miyazaki Ichisada [宫崎市定 Cung Khi Thị Định] người Nhật Bản, Edward A. Kracke Jr. và John K. Fairbank [费正清 Phí Chính Thanh] người Mĩ…, thì đa số đều chủ trương rằng chế độ khoa cử bắt đầu từ đời Tùy. Như Trần Đông Nguyên năm 1934 nói: “Chế độ khoa cử này tuy xác lập vào đời Đường, nhưng thật ra bắt đầu từ đời Tùy”[2]. Chu Cốc Thành năm 1939 nói: “Chế độ khoa cử, nghĩa là chia thành khoa mục để tuyển cử sĩ nhân, chế độ này bắt đầu vào thời đại của Tùy Dạng đế”[3]. Miyazaki Ichisada năm 1946 cũng nói: “Khoa cử của Trung Quốc, từ đời Tùy đến Vãn Thanh, thời gian thực hành dài tới hơn 1300 năm, đây là một loại khảo thí tư cách để tuyển chọn quan lại cao cấp”[4]
Từ thập niên 1950 trở đi, liên tục xuất hiện các bộ thông sử mới do Phạm Văn Lan, Quách Mạt Nhược郭沫若, Tiễn Bá Tán, Lã Chấn Vũ, Bạch Thọ Di白寿彝… chủ biên, các sách này tiếp tục giữ quan điểm rằng chế độ khoa cử khởi nguyên vào đời Tùy, thuyết “đời Tùy” về cơ bản đã trở thành định luận trong giới sử học trong nước, đồng thời được quán triệt trong sách giáo khoa các cấp đại học, trung học và tiểu học. Trong chương 1 “Thời kì nam bắc thống nhất, xã hội phồn vinh: đời Tùy” thuộc phần 3 cuốn Trung Quốc thông sử giản biên 中国通史简编 do Phạm Văn Lan chủ biên đã viết: “Năm 607, Tùy Dạng đế ấn định 10 khoa tuyển người, trong đó có một khoa ‘văn tài tú mĩ文才秀美 (tài văn ưu tú), tức là khoa tiến sĩ. (…) Đây là khởi điểm của chế độ khoa cử (chủ yếu là khoa tiến sĩ)”. Quan điểm coi sự xuất hiện của khoa tiến sĩ là tiêu chí chủ yếu cho khởi điểm của chế độ khoa cử như thế, có thể nói đã đại diện cho quan điểm chung của đại đa số học giả Trung Quốc. Tất nhiên, cũng có học giả xuất phát từ định nghĩa “cái gọi là chế độ khoa cử chính là chế độ tuyển cử căn cứ theo những khoa mục khác nhau để tuyển cử nhân tài”[5], rồi cho rằng việc “chia khoa chọn người” (分科取士 phân khoa thủ sĩ) cũng bắt đầu từ đời Tùy, cho nên thời đó đã xuất hiện chế độ khoa cử. Chỉ có Đường Trường Nhụ唐长孺 đề xuất quan điểm giống với Du Đại Cương, ông cho rằng đặc điểm quan trọng của chế độ khoa cử đời Đường nằm ở chỗ có phải là “cho phép nộp đơn tự thi” hay không, mà cuối thời Nam Bắc Triều đã xuất hiện những trường hợp sĩ nhân “nộp đơn tự thi” rồi, điều đó cho thấy chế độ khoa cử đang nảy mầm trong thời gian ấy[6]
Bước vào thập niên 1980, có học giả viết bài chỉ ra: nếu muốn xác định thời điểm khởi nguyên của chế độ khoa cử thì đầu tiên phải nắm được cái bản chất đặc thù khiến cho nó khác với các chế độ tuyển cử khác, cũng tức là phải giải quyết vấn đề: thế nào là khoa cử. Hà Trung Lễ trong bài Biện luận và phân tích về khởi nguyên của chế độ khoa cử - kiêm bàn việc khoa tiến sĩ được sáng lập vào đời Đường 科举制起源辨析-兼论进士科首创于唐 đã chỉ ra, khảo sát toàn bộ chế độ khoa cử trong xã hội phong kiến, về cơ bản có thể khái quát thành ba đặc điểm như sau: “Một: sĩ tử ứng cử, về nguyên tắc là cho phép ‘nộp đơn tự thi’, không nhất thiết phải có sự tiến cử đặc biệt của công khanh đại thần hay trưởng quan châu quận. Điểm này phải là đặc điểm chủ yếu nhất của chế độ khoa cử, cũng là sự khu biệt căn bản nhất với chế độ sát cử. Hai: ‘tất cả đều dựa vào bài văn để quyết định rớt hay đỗ’. Nói cách khác, thí sinh thi đỗ hay thi trượt đều được quyết định bởi việc thi cử nghiêm ngặt. Ba: lấy khoa tiến sĩ làm khoa mục chủ yếu để chọn kẻ sĩ, sĩ nhân theo kì hạn mà đi thi”[7]. Đồng thời thông qua luận chứng trên nhiều phương diện, ông cho rằng việc “nộp đơn tự thi” và cách tính đỗ trượt như trong những đặc điểm kể trên mặc dù đã hé lộ từ cuối thời Nam Bắc Triều, nhưng chính thức xuất hiện vào đời Đường. Đời Tùy dù cho đã xoá bỏ chế độ cửu phẩm trung chính, nhưng cái được thực hành vẫn là chế độ sát cử. Còn về cách nói được ghi chép trong sách sử rằng đời Tùy đã có khoa tiến sĩ, thì tra ra cũng không có chứng cớ thực tế. Vì vậy, thời điểm hình thành chính thức của chế độ khoa cử không phải là đời Tùy mà là đời Đường. Còn việc lí giải một cách đơn thuần rằng chế độ khoa cử có nghĩa là chia khoa chọn người thì cũng không thật toàn diện, bởi việc chia khoa chọn người chỉ là việc từ trước biến pháp Hi Ninh đời Bắc Tống, kể từ đó đến ba đời Nguyên Minh Thanh thì trong khoa cử chỉ còn khoa tiến sĩ, đã không còn tồn tại vấn đề chia khoa chọn người nữa.
Không lâu sau, hai học giả Kim Húc Đông 金旭东 và Chu Đông Bình 周东平 lần lượt viết bài đề xuất nghi ngờ đối với thuyết coi “nộp đơn tự thi” là đặc điểm chủ yếu của chế độ khoa cử, Kim Húc Đông cho rằng: “‘tất cả đều dựa vào bài văn để quyết định rớt hay đỗ’, đó mới là đặc điểm chủ yếu của chế độ khoa cử và sự khu biệt căn bản với chế độ sát cử[8]. Chu Đông Bình thì kiên trì rằng: “Chế độ khoa cử là chế độ tuyển cử có nhiều khoa mục, chia khoa chọn người[9]. Sau đó, Ngô Tông Quốc 吴宗国 cũng nhấn mạnh tác dụng của việc khảo thí trong khoa cử, cho rằng chế độ khoa cử chính là “một kiểu chế độ khảo thí để tuyển bạt quan lại từ thời Đường Tống trở đi”[10]. Mặc dù quan điểm của họ về đặc điểm chủ yếu của chế độ khoa cử không hoàn toàn thống nhất, nhưng họ đều cho rằng thời gian sáng lập là đời Tùy. Chỉ có Kim Tránh 金诤trong cuốn Chế độ khoa cử với văn hóa Trung Quốc 科举制度与中国文化 là theo cách nhìn của Hà Trung Lễ về 3 đặc điểm của chế độ khoa cử, ông liệt cử sự thực, nhắc lại rằng: “chế độ khoa cử chính thức sinh ra vào đời Đường (mà trong đời Đường vẫn còn có một quá trình phát triển), chứ không phải đời Tùy”[11].
Cùng lúc đó, cũng có người đề xuất thuyết “sáng lập vào đời Hán” – một quan điểm khác hẳn với hai thuyết “đời Tùy” và “đời Đường”. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 5/1990 đăng bài Bàn về điểm giống và khác của khoa cử đời Hán và Đường 汉唐科举异同论 của Từ Liên Đạt 徐连达 và Lâu Kính楼劲, họ căn cứ vào tình hình tuyển cử hai đời Hán và Đường đều có chia khoa chọn người và khảo thí để đề xuất chủ trương “đời Hán thực sự là thời kì sáng lập của khoa cử, đời Đường thì là thời kì hoàn thành”, lí do cụ thể của họ là: “1. Trong ba yếu tố là hệ thống khoa mục, các bước tổ chức, và các khâu khảo thí, giữa sát cử đời Hán và khoa cử đời Dường về cơ bản là giống nhau. Cho nên sát cử và khoa cử cũng là một! Đều là chế độ tuyển bạt quan lại được triều đình quy định thống nhất có đặc trưng là theo khoa để chọn kẻ sĩ, theo khảo thí để được chọn dùng. 2. So với chế độ đời Hán, thì chế độ đời Đường là bước phát triển quan trọng với ba đặc điểm là: nộp đơn tự thi, phân chia cử - tuyển, khoa cử và trường học kết hợp chặt chẽ. Nhưng đó là sự nối trước mở sau so với khoa cử các đời Hán và Minh Thanh, thuộc vào quá trình tổng thể của sự phát triển của chế độ theo khoa để chọn kẻ sĩ, theo khảo thí để được chọn dùng. 3. Chế độ đời Hán và Đường đều nằm trong quá trình không ngừng hoàn thiện. Các yếu tố của khoa cử ở đời Hán chỉ là sơ khởi, tới thời Ngụy Tấn chế độ khoa cử tuy còn giữ được dòng mạch phát triển nhưng lại lâm vào thoái trào dưới ảnh hưởng song trùng của tập đoàn sĩ nhân và quân nhân. Cho nên đời Hán thực sự là thời kì sáng lập của khoa cử, đời Đường thì là thời kì hoàn thiện”. 
Người chủ trương thuyết “sáng lập vào đời Hán” có vẻ như chỉ chiếm số ít trong nước, nhưng ở các học giả nước ngoài thì lại không thiếu, như Wolfrom Eberhard trong bài Tính lưu động xã hội ở Trung Quốc truyền thống lại giữ quan điểm “chế độ khoa cử từ đời Hán đến năm 1904”[12].
[...]
 HÀ TRUNG LỄ
Nguyễn Tuấn Cường dịch



Nguồn: Hà Trung Lễ 何忠礼, Nghiên cứu trong thế kỉ XX về lịch sử chế độ khoa cử Trung Quốc 二十世纪的中国科举制度史研究 (2000), in trong: Nguyễn Tuấn Cường (tuyển chọn, dịch chú), Hán học Trung Quốc thế kỉ XX (văn tự, ngôn ngữ, văn hiến, giáo dục, tư tưởng, triết học), NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010, tr. 445-490. Bài viết kể trên của Hà Trung Lễ rất uyên bác, nhưng cũng rất... dài. Trong entry này chỉ trích 1/5 mục của bài viết (tr. 446-451). Các hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa. 
 


[1] Xem: Đặng Tự Vũ, Trung Quốc khảo thí chế độ sử, Đài Bắc học sinh thư cục, 1982,
tr. 8-16.
[2] Trần Đông Nguyên, Giáo dục trong thời đại khoa cử Trung Quốc 中国科举时代之教育, Thương vụ ấn thư quán, 1934, tr. 1.
[3] Chu Cốc Thành, Trung Quốc thông sử 中国通史 (thượng sách), Khai Minh thư điếm, 1939.
[4] Miyazaki Ichisada, Khoa cử, Nhật Bản thu điền ốc, 1946, tr. 1.
[5] Hàn Quốc Bàn 韩国磐, Lược khảo hai điểm trong việc thiết lập chế độ khoa cử 关于科举制度创置的两点小考, in trong: Tùy Đường Ngũ Đại sử luận tập 隋唐五代史论集, Tam liên thư điếm, 1979; Quan Lí Quyền 关履权 cũng nói: “Khoa cử nghĩa là chia thành các khoa để tuyển cử nhân tài”, xem: Cơ sở xã hội của việc mở rộng chế độ khoa cử đời Tống và ảnh hưởng của chế độ khoa cử tới nền chính trị quan liêu 宋代科举考试制度扩大的社会基础及其对官僚政治的影响, in trong: Tống sử luận tập, 宋史论集, Trung Châu thư họa xã, 1983.
[6] Đường Trường Nhụ, Sự manh nha của chế độ khoa cử cuối thời Nam Bắc Triều 南北朝后期科举制度的萌芽, in trong: Ngụy Tấn Nam Bắc Triều sử luận tùng tục biên 魏晋南北朝史论丛续编, Tam liên thư điếm, 1959.
[7] Hà Trung Lễ, Biện luận và phân tích về khởi nguyên của chế độ khoa cử - kiêm bàn việc khoa tiến sĩ được sáng lập vào đời Đường, in trong: Lịch sử nghiên cứu, số 2/1983.
[8] Kim Húc Đông, Thảo luận với bài ‘Biện luận và phân tích về khởi nguyên của chế độ khoa cử科举制起源辨析之商榷, in trong: Lịch sử nghiên cứu, số 6/1984.
[9] Chu Đông Bình, Mấy ý kiến về khởi nguyên của chế độ khoa cử 关于科举制起源的几点意见, in trong: Lịch sử nghiên cứu, số 6/1984.
[10] Ngô Tông Quốc, Đường đại khoa cử chế độ nghiên cứu 唐代科举制度研究, Liêu Ninh Đại học Xuất bản xã, 1992, tr. 1.
[11] Kim Tránh, Chế độ khoa cử với văn hóa Trung Quốc, Thượng Hải nhân dân Xuất bản xã, 1990, tr. 48.
[12] Wolfrom Eberhard, Social Mobility in Traditional China , p. 22. E. J. Brill, Leiden, 1962.

2 nhận xét:

  1. Cái phao sĩ tử kia là tội của đám khắc in đời Tống. Hồi chị đọc thông tin về "Cửu kinh" chị mới vỡ lẽ là ở đời Tống có các bản Cửu kinh khổ bé gọi là 巾箱本, những sách in dạng này có thể đút lọt vào ống tay áo, vào hộp đựng khăn, nói chung là có thể đút lọt vào những nơi nhỏ xíu. Ngày xưa các cụ cũng quay bài ác liệt, vì thế nên thông cảm cho thói quay cóp của bọn trẻ bi giờ, chúng chỉ noi theo truyền thống cha ông mà thôi :))

    Trả lờiXóa
  2. Hôm nào phải làm một chuyên đề về những tội kiểu "hoài hiệp văn tự" chị nhỉ ^^

    Hoàng Việt Tăng San Tân Luật ghi:

    "Điều thứ ba trăm mười một: Người học trò nào vào trường khảo thí mà bị bắt được hoài hiệp văn tự thì phải bị phạt giam từ sáu ngày đến bốn tháng, và phạt bạc từ bảy đồng đến năm mươi đồng, hoặc hai thứ chỉ phải chịu một."

    http://tuancuonghn.blogspot.com/2010/12/luat-nam-au-tk-xx-xu-li-sai-pham-trong.html

    Chứng tỏ thời trước các cụ phạt nghiêm hơn, bây giờ đến cả thi đầu vào đại học, nếu có bắt được phao trong phòng thi thì cũng chỉ đình chỉ thi thôi.

    Trả lờiXóa