Thứ Năm, 26 tháng 5, 2011

Đánh giá lịch sử về chế độ khoa cử (dịch - tiếp)

Gia hiệu thị chúng (枷号示众: đóng gông bêu trước thiên hạ), 1 trong 4 hình phạt đối với sĩ tử gian lận thời xưa. Bác này trông mặt đã thấy "gian" và "gấu" rồi ^^

[...]
5. Đánh giá lịch sử về chế độ khoa cử
Bất kể là trong thời cận đại hay đương đại, người ta đã đánh giá về công tội lịch sử của chế độ khoa cử một cách khác nhau rất xa do họ xuất phát từ những căn cứ khác nhau. Nhóm phủ định chế độ khoa cử chủ yếu xuất phát từ hai phương diện là khoa cử chỉ hỏi tài chứ không hỏi đức hạnh và nội dung khảo thí vô dụng, đặc biệt là đến đời Minh Thanh dùng bát cổ văn chọn kẻ sĩ, trói buộc tư tưởng của người trí thức, bại hoại nhân tài một cách nghiêm trọng, đó được coi là những tệ hại chủ yếu của chế độ khoa cử. Về thành quả nghiên cứu, chúng tôi đã trình bày ở phần trước.
Bởi chế độ khoa cử ở cuối đời Thanh đã phải chịu đòn roi của toàn xã hội, cho nên sau khi bước vào thời Dân Quốc, người ta đều kiêng nói đến những ưu điểm của chế độ này, các nhà nghiên cứu thời bấy giờ phần nhiều đổi “khoa cử” thành “khảo thí” để tỏ ý khu biệt. Đến những thập niên 1950-1970, lại do ảnh hưởng của không khí chính trị, các công trình nghiên cứu chế độ khoa cử phần nhiều tập trung phơi bày những tệ hại của nó, gần như không có ai có ý kiến khẳng định dù nhỏ. Như Thương Diễn Lưu trong cuốn Thanh đại khoa cử khảo thí thuật lục cuối cùng đã kết luận: “Khoa cử chỉ để lại cặn bã”[1], đó chính là một ví dụ điển hình.
20 năm qua, giới sử học dưới sự chỉ đạo của tư tưởng thực sự cầu thị đã bắt đầu có những nhận thức mới về chế độ khoa cử. Có thể nói, một trong những người tiêu biểu là Dương Học Vi 杨学为, người nhiều năm làm việc trong Trung tâm Khảo thí quốc gia. Ông nói: “Trong quá khứ từng cho rằng khoa cử có vẻ như không có điểm nào tốt, hiện nay làm công tác khảo thí, có một vài thể nghiệm, lại tra cứu một vài tư liệu, mới cảm thấy nhận thức trước đây là không toàn diện”, đồng thời đề xuất: “Nếu biến pháp (Mậu Tuất) [1898] thành công, tách bỏ được những nội dung cũ kĩ và hình thức xơ cứng của khảo thí khoa cử, khiến nó phù hợp với nhu cầu duy tân, thì lịch sử cũng có thể sẽ mang bộ mặt khác”[2]. Hiện nay, không ít học giả cho rằng, chế độ khoa cử tuy có tính hạn chế lịch sử, nhưng so với tất cả các chế độ tuyển cử trong xã hội phong kiến bao gồm chế độ sát cử thời xưa, thì lại có tính tiến bộ và tính hợp lí. Nó tạo thành “sự lưu động xã hội”, ở mức độ nhất định đã cải thiện nền chính trị phong kiến; còn trình thức và chế độ khảo thí nghiêm ngặt và hoàn chỉnh của khoa cử thì càng nên coi là một sáng tạo kiệt xuất của dân tộc Trung Hoa, có người thậm chí khẳng định chắc chắn rằng: “Xét từ góc độ ảnh hưởng tới văn minh thế giới, chế độ khoa cử có thể nói là phát minh lớn thứ năm của người Trung Quốc”[3].
Chi chít chữ nhỏ li ti trên một chiếc áo "phao"
Hà Trung Lễ thông qua nghiên cứu so sánh chế độ khoa cử với chế độ sát cử đã chỉ ra, chế độ sát cử còn kém xa chế độ khoa cử về mặt tiến bộ và hợp lí. Chế độ khoa cử “tuy rằng cũng có không ít tệ hại, nhưng nó khiến cho thí sinh có cơ hội cạnh tranh công bằng, nó có những ưu điểm không thể bác bỏ trong việc phát huy những nhân tố tích cực của con người, thu thập nhân tài ở khắp nơi. Lấy khảo thí để chọn kẻ sĩ, quyền ấy là ở quốc gia, người đỗ không có ơn riêng, người rớt không có oán hận, cũng có lợi cho sự yên ổn trong xã hội và sự minh bạch trong chính trị”. Đồng thời cho rằng ngày nay phải kế thừa nó một cách có phê phán[4]. Hồ Quả Văn liên hệ với hiện thực, chỉ ra trong chế độ uỷ nhiệm cán bộ thi hành trước đây còn tồn tại một số tệ hại của chế độ sát cử ngày xưa, ông nỗ lực chủ trương phải noi theo phương pháp dùng khoa cử để tuyển bạt nhân tài, ông cho rằng chế độ ủy nhiệm không giúp cho đảng, chính trị và toàn bộ xã hội có phong khí tốt đẹp lên. Đồng thời ông kiến nghị, trên cơ sở phê phán và học tập toàn diện chế độ khoa cử và chế độ văn quan, cần xây dựng một mô thức mới cho chế độ nhậm dụng cán bộ của chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc[5]
Tứ Thư Bị Chỉ: "phao" tóm tắt các nội dung trong Tứ Thư
 Ở các khu vực Hồng Kông và Đài Loan cũng có những thay đổi trong đánh giá về chế độ khoa cử. Thẩm Kiêm Sĩ 沈兼士 dựa trên cơ sở mà Tiền Mục đã bàn về ý nghĩa của chế độ khoa cử đời Đường, ông phát huy thêm và cho rằng chế độ khoa cử có năm ưu điểm sau: “một là dùng tiêu chuẩn khảo thí khách quan để kén chọn nhân tài, cho họ tham dự vào nền chính trị quốc gia”; “hai là về căn bản đã tiêu diệt sự tồn tại của giai cấp xã hội”; “ba là thúc đẩy văn hóa xã hội đi lên”; “bốn là bồi dưỡng ‘nguyên động lực’ 原动力 cho hứng thú chính trị của nhân dân toàn quốc, từ đó tăng cường lòng yêu nước”; “năm là thúc đẩy tổ chức đại thống nhất nền chính trị quốc gia”. Ông chỉ ra: cho dù là khoa cử đời Thanh thì [những ưu điểm trên] cũng hoàn toàn do nội dung khảo thí của khoa cử tạo thành, “hoàn toàn không phải do bản thân việc khảo thí có vấn đề”[6].
Tuy trong một thời kì khá dài chế độ khoa cử luôn ở vị trí bị phê phán, nhưng có người vẫn thừa nhận nó có tác dụng thúc đẩy lưu động xã hội. Hơn nửa thế kỉ trước, nhà các xã hội học Phan Quang Đán 潘光旦 và Phí Hiếu Thông 费孝通 từng nghiên cứu khoa cử với vấn đề lưu động xã hội, họ thông qua điều tra thống kê 915 bản “chu mặc quyển朱墨卷 (sách dùng mực đỏ và đen) của cống sinh, cử nhân và tiến sĩ (bởi đầu mỗi quyển đều chép lí lịch của thí sinh), phát hiện rằng 33,44% số người này đời bố không có công danh gì, 122 người là con em thường dân năm đời liên tiếp không có công danh gì, từ đó cho thấy “chế độ khoa cử có tính khai phóng tương đối và tính cạnh tranh ở mức độ nhất định, tạo nên sự lưu động nhân tài trong xã hội phong kiến[7]. Điều đó có nghĩa là, có một số thường dân thông qua khảo thí khoa cử có thể vươn thành nhà thống trị; một số con em quan chức khác lại xuống làm thường dân bởi thi hỏng khoa cử. Nhóm Hà Bính Lệ 何炳棣 và Kha Duệ Cách 柯睿格 cũng có quan điểm tương tự, họ nói: “Quý tộc quan lại thời kì cuối trong xã hội truyền thống Trung Quốc có được địa vị nhờ vào chức quan và khảo thí, nếu xem xét đến những khó khăn trong việc vượt qua khảo thí thì sự tạo thành quý tộc quan lại có tính biến động rất lớn”.
Nhưng, quan điểm khoa cử tạo thành “lưu động xã hội” cũng vấp phải sự phản đối của nhiều người như học giả người Mĩ Hymes Robert, lí do của họ là: “Các thành viên của giai cấp thượng tầng lấy quyền sở hữu đất đai làm cơ sở, để rồi có thể được học hành và có quan chức”; “luận điểm tính lưu động đặt sự chú ý tập trung một cách hạn hẹp vào trực hệ đời bố, mà bỏ qua những nhân tố quan trọng như mối quan hệ thế tộc, hôn nhân, thậm chí anh em, chị em, chú bác…”[8]. Vậy nên họ cho rằng: “Khảo thí khoa cử gần như không có tác dụng đối với việc tạo ra lưu động xã hội, tầng lớp thống trị dựa vào thế lực gia tộc và thông hôn với nhau để giữ mãi thế lực của mình, có thể kéo dài tới hơn mười đời”. Về quan điểm của nhóm Hymes Robert, Lí Hoằng Kì một mặt nói: “Tôi và đại bộ phận học giả (bao gồm đại lục và Nhật Bản) đều hơi khó tiếp thu quan điểm này”[9]. Mặt khác ông lại cho rằng: “Thật ra có rất ít người trực tiếp chịu ảnh hưởng của khoa cử, bởi sự khảo thí khoa cử ấy không giúp tạo ra sự lưu động xã hội vốn cực kì quan trọng. Ngược lại, do nó tạo ra và duy trì các gia tộc “sĩ thân” 士绅 ở các địa phương, nên tạo thành một thứ trở lực tiềm ẩn và to lớn khiến những thường dân thiếu bối cảnh gia thế không thể lưu động lên tầng lớp trên”[10].
Tống Nguyên Cường lại cho rằng khoa cử chọn kẻ sĩ chắc chắn đã tạo nên sự lưu động xã hội, ông thông qua điều tra chọn mẫu đối với xuất thân của 57 trạng nguyên có thể khảo cứu rõ ràng về gia thế trong số 114 trạng nguyên đời Thanh, dùng sự thật để chứng tỏ chế độ khoa cử có “những đặc trưng cơ bản là không câu nệ gia thế, cạnh tranh bình đẳng, khảo thí công khai, tốt chọn xấu bỏ”. Ông nói: “Nếu so với các chế độ tuyển quan thời Tây Chu, Lưỡng Hán, Ngụy Tấn, thì không thể coi nhẹ cơ chế cạnh tranh tồn tại trong việc dùng khoa mục để chọn kẻ sĩ. Sự cạnh tranh bình đẳng ở mức độ nhất định ấy đã thúc đẩy sự lưu động giữa các thành viên thuộc các đẳng cấp khác nhau, giúp nhà thống trị các đời đào tạo rất nhiều thế hệ quan lại, có tác dụng cực kì quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của xã hội phong kiến nước ta”. Ông phát hiện rằng trong 57 vị trạng nguyên đời Thanh, chỉ có 51% xuất thân từ gia đình quan lại, 49% xuất thân từ gia đình thường dân, số con em thường dân làm quan chiếm gần một nửa. Lẽ ra, giai cấp thống trị trong khi tuyển cử luôn phải chiếu cố đến lợi ích của giai cấp mình, nhưng tại sao từ Đường Tống đến Minh Thanh, chế độ khoa cử luôn là phương thức tuyển quan chủ yếu mà chính phủ phong kiến áp dụng, nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng luôn được sử dụng? Tống Nguyên Cường cho rằng chủ yếu có ba nguyên nhân sau: “Thứ nhất, giai cấp địa chủ trong xã hội phong kiến từng bước thay đổi, từ Tống đến Thanh, địa chủ phẩm quan 品官地主, địa chủ quan thân 官绅地主 và địa chủ thứ dân 庶民地主 dần dần ở vào vị trí chi phối, khoa cử thích hợp với nhu cầu chính trị và kinh tế của họ”; “thứ hai, chế độ trung ương tập quyền chuyên chế chủ nghĩa liên tục hoàn thiện, thực hành chế độ khoa cử chọn kẻ sĩ, có lợi cho củng cố hoàng quyền”; “thứ ba, tầng lớp sĩ (vốn chịu nền giáo dục Nho gia truyền thống) không ngừng mở rộng, kiềm chế được sĩ nhân thì có lợi cho ổn định xã hội, tuyển chọn được những sĩ tử tài năng thì có lợi cho việc xây dựng giai tầng thống trị vững mạnh”[11]
Vẫn là các loại "phao" tí hon để găm vào người sĩ tử xưa ^^. Từ đây có thể nhận thấy sự phát triển vượt bậc của kĩ thuật in ấn tinh vi của Trung Quốc cổ đại. Vậy hành vi quay cóp trong khoa cử cũng có tác dụng tích cực đấy chứ? ^^
Rất nhiều học giả còn chuyên nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ khoa cử Trung Quốc đối với các nước trên thế giới.
Đầu tiên là ảnh hưởng đến các quốc gia chung quanh, nhất là bán đảo Triều Tiên và Việt Nam. Học giả Đài Loan Chu Vân Ảnh 朱云影 chỉ ra: “Năm thứ 9 đời Cao Li Quang tông (958) áp dụng kiến nghị của sứ thần nhà Hậu Chu là Song Kí 双冀, bắt đầu thực thi khoa cử, đặt hai khoa chế thuậtminh kinh, chế thuật tức là khoa tiến sĩ đời Đường, thi sách luận và thơ văn, minh kinh là thi thiếp kinh, mặc nghĩa[12]”. Ông lại thông qua khảo chứng để chứng minh rằng triều Lí Anh tông (1138-1175) ở Việt Nam bắt đầu mở ra việc dùng khoa cử chọn kẻ sĩ, cũng là kết quả từ ảnh hưởng của Trung Quốc[13].
Thứ hai là sự truyền bá tại phương Tây của chế độ khảo thí Trung Quốc và ảnh hưởng của nó tới chế độ văn quan phương Tây. Tuy việc khảo thí không chỉ là độc hữu của khoa cử, nhưng phải thừa nhận rằng, phương Tây muốn hiểu được chế độ khảo thí của Trung Quốc thì phải thông qua hiểu rõ khảo thí khoa cử. Ngay từ thập niên 1920, Tôn Trung Sơn 孙中山 từng nói chắc chắn rằng: “Chế độ khảo thí ở các nước hiện nay hầu như đều là của nước Anh. Xét đến tận ngọn nguồn thì chế độ khảo thí của nước Anh vốn học lại từ Trung Quốc chúng ta. Cho nên chế độ khảo thí của Trung Quốc chính là chế độ cổ nhất và tốt nhất trên thế giới”[14]. Bước vào thập niên 1940, Đặng Tự Vũ đã khảo chứng tỉ mỉ về quá trình truyền bá sang phương Tây của chế độ khảo thí Trung Quốc, thông qua các loại tư liệu văn hiến đã chứng minh rằng chế độ khoa cử Trung Quốc có ảnh hưởng tới chế độ khảo thí và chế độ văn quan của nước Pháp, ông nói: “Ngay từ năm 1570, châu Âu đã có một số học giả biết đến chế độ chính trị và chế độ khảo thí của Trung Quốc. (…) Sau đó, học giả Pháp Breton lại thừa nhận rằng giáo dục của nước Pháp thực ra được xây dựng ổn định dựa trên chế độ khảo thí học thuật công khai của Trung Quốc, đồng thời cho rằng tư tưởng của chế độ khảo thí văn quan nước Pháp rõ ràng cũng có nguồn gốc từ chế độ của Trung Quốc”. Đặng Tự Vũ đồng thời nghiên cứu tình hình nảy sinh của chế độ khảo thí và chế độ văn quan của các quốc gia phương Tây khác như Anh, Mĩ, chỉ ra rằng đó cũng đều là kết quả ảnh hưởng trực tiếp từ chế độ khảo thí Trung Quốc[15]. Năm 1983, Tổng cục trưởng Tổng cục nhân sự Mĩ đương nhiệm là Campbell khi diễn giảng tại Bắc Kinh theo lời mời đã nói: “Khi tôi được mời đến Trung Quốc để diễn giảng về chế độ văn quan, tôi cảm thấy rất kinh ngạc, bởi vì tất cả các sách giáo khoa chính trị học ở phương Tây chúng tôi khi nói đến chế độ văn quan thì đều cho rằng Trung Quốc là nơi sáng lập ra chế độ văn quan”[16].  
"Phao" giấu trong giày của sĩ tử đời Thanh.
Cuối cùng, vẫn cần phải đề cập đến vấn đề biên toản sử liệu khoa cử. Nhằm thúc đẩy tốt hơn nữa những nghiên cứu về lịch sử chế độ tuyển cử cổ đại Trung Quốc, đặc biệt là lịch sử chế độ khoa cử, Trung Quốc đại lục và Đài Loan đều đã xuất bản được các bộ tuyển biên sử liệu về tuyển cử và khảo thí cổ đại Trung Quốc, trong đó hai cuốn có nội dung phong phú nhất, rất tiện cho các học giả tra cứu và nghiên cứu là cuốn Trung Quốc tuyển cử sử liệu 中国选举史料 (Sử liệu tuyển cử Trung Quốc) do Dương Gia Lạc 杨家骆 chủ biên (Đài Loan đỉnh văn thư cục, 1977) và cuốn Trung Quốc khảo thí chế độ sử tư liệu tuyển biên 中国考试制度史资料选编 (Tuyển tập tư liệu về lịch sử chế độ khảo thí Trung Quốc) do nhóm Dương Học Vi chủ biên (Hoàng sơn thư xã, 1992). Ngoài ra, cuốn Lịch đại đăng khoa tổng lục 历代登科总录 do Cung Diên Minh chủ biên cũng đang được biên soạn, trong sách đã soạn tiểu truyện cho từng nhân vật đăng khoa, ghi chép lí lịch cơ bản của họ, quy mô cực kì lớn. Cuốn sách này khi được xuất bản sẽ giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứu chế độ khoa cử và nhân vật đăng khoa các đời. 

HÀ TRUNG LỄ
Nguyễn Tuấn Cường dịch



Nguồn: Hà Trung Lễ 何忠礼, Nghiên cứu trong thế kỉ XX về lịch sử chế độ khoa cử Trung Quốc 二十世纪的中国科举制度史研究 (2000), in trong: Nguyễn Tuấn Cường (tuyển chọn, dịch chú), Hán học Trung Quốc thế kỉ XX (văn tự, ngôn ngữ, văn hiến, giáo dục, tư tưởng, triết học), NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010, tr. 445-490. Trong entry này chỉ trích 1/5 mục (mục 5) của bài viết (tr. 483-490). Các hình minh họa chỉ có tính chất... minh họa ^^.



[1] Thanh đại khoa cử khảo thí thuật lục, sđd, tr. 352.
[2] Dương Học Vi, Nhận thức lại khoa cử 对科举的再认识, in trong: Vựng biên tư liệu cải cách thi đại học và thi thống nhất 高考会考改革资料汇编, Học uyển Xuất bản xã, 1990.
[3] Lưu Hải Phong, Chế độ khoa cử: Phát minh lớn thứ năm của Trung Quốc 科举制: 中国的第五大发明, in trong: Thám sách dữ tranh minh, số 8/1995.
[4] Hà Trung Lễ, So sánh điểm hơn kém giữa chế độ tiến cử và chế độ khảo thí 荐举制度与考试制度优劣之比较, in trong: Kỉ yếu Hội thảo quốc tế Vấn đề nhân tài khu vực đông nam Trung Quốc 中国东南地区人才问题国际研讨会论文集, Chiết Giang Đại học Xuất bản xã, 1993.
[5] Xin xem: Thanh đại khoa cử lược luận, bđd.
[6] Thẩm Kiêm Sĩ, Trung Quốc khảo thí chế độ sử 中国考试制度史, Đài Loan Thương vụ ấn thư quán, 1980, tr. 191.
[7] Phan Quang Đán, Phí Hiếu Thông, Khoa cử với lưu động xã hội 科举与社会流动, in trong: Xã hội khoa học (Thanh Hoa đại học), quyển 4, số 1.
[8] Xin xem: [John Chaffee] Tống đại khoa cử, sđd, tr. 14-15.
[9] Giáo dục quan học và khoa cử đời Tống, sđd, phần Dẫn luận.
[10] Giáo dục quan học và khoa cử đời Tống, sđd, tr. 263.
[11] Tống Nguyên Cường, Khoa mục tuyển kẻ sĩ đời Thanh với cơ chế cạnh tranh 清代的科目选士与竞争机制, in trong: Trung Quốc Xã hội Khoa học, số 2/1993.
[12] [NTC chú] Thiếp kinh, mặc nghĩa: Thiếp kinh 帖经 là phép thi khoa minh kinh đời Đường. Trong bài thi có chép một đoạn kinh văn, lại dùng một tờ giấy khác để che lại, ở giữa để lại một hàng cho nhìn rõ câu chữ, thí sinh phải căn cứ vào đó mà viết bổ sung cho đủ lời văn của đoạn đó. Mặc nghĩa 墨义: từ đời Đường về sau, khi khảo thí khoa cử có lệnh cho sĩ tử dùng bút trả lời kinh nghĩa, gọi là “mặc nghĩa”.
[13] Chu Vân Ảnh, Ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc tới Nhật Hàn Việt 中国文化对日韩越的影响, Đài Bắc Lê minh văn hóa sự nghiệp cổ phần hữu hạn công ti, 1981,
tr. 427-432.
[14] Tôn Trung Sơn, Ngũ quyền hiến pháp – Dân quyền sơ bộ 五权宪法·民权初步, Dân trị thư cục, 1928.
[15] Đặng Tự Vũ, Khảo về sự truyền bá sang phương Tây của chế độ khảo thí Trung Quốc 中国考试制度西传考, in trong: Đặng Tự Vũ tiên sinh học thuật luận văn tuyển tập 邓嗣禹先生学术论文选集, Đài Loan thực hóa Xuất bản xã, 1980.
[16] Xin xem: nhóm Tang Ngọc Thành 桑玉成, Khái thuật chế độ công vụ viên đương đại 当代公务员制度概述, Lan Châu Đại học Xuất bản xã, 1988, tr. 17.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét