Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

Văn tự ở Đông Á...

Vài suy nghĩ so sánh về các giải pháp ngữ văn học
để tiếp cận văn bản Hán văn ở Nhật Bản và Việt Nam cổ đại


1. Liên tục trong các năm 2008, 2009 và 2011, cán bộ, học viên cao học và sinh viên ngành Hán Nôm thuộc Khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội được vinh dự đón GS Yamabe Susumu, chuyên gia về nghiên cứu huấn độc Hán văn Nhật Bản từ đại học Nishogakusha, Tokyo sang giảng dạy. Đây là một sự kiện mang tính bước ngoặt trong tiến trình đào tại ngành Hán Nôm, bởi thứ nhất, đây là lần đầu tiên trong lịch sử ngành Hán Nôm có hợp tác thỉnh giảng thường niên với GS nước ngoài; thứ hai, đây là những hoạt động khoa học đầu tiên để mở ra hướng nghiên cứu Nhật Bản học cho ngành Hán Nôm vốn xưa nay chỉ tập trung nghiên cứu Việt Nam và Trung Quốc.
Ngay từ những bước đầu tiên ấy, với sự hướng dẫn của GS Yamabe Susumu và nhiều GS danh tiếng khác của Nhật Bản (GS Sato Susumu, GS Sasahara Hiroyuki, GS Shimizu Masaaki) thầy và trò ngành Hán Nôm đã được tiếp xúc với các chuyên gia hàng đầu Nhật Bản về các vấn đề liên quan đến Hán văn Nhật Bản, chữ Hán Nhật (quốc tự), lịch sử truyền nhập kinh điển Nho học tại Nhật Bản, âm đọc Hán Nhật… Đây thực sự là những kiến thức mới mẻ, tạo hứng khởi cho thầy và trò ngành Hán Nôm thêm tự tin hướng tới một tương lai tươi sáng của ngành Nhật Bản học tại đây. Danh tiếng của các GS Nhật Bản đã thu hút không chỉ thầy và trò ngành Hán Nôm, mà còn thu hút sự quan tâm của cán bộ, sinh viên Bộ môn Nhật Bản học (thuộc Khoa Đông phương học, trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn) và các nhà nghiên cứu ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

 GS Yamabe Susumu và các học viên trong các buổi giảng ngày 14-15/2/2011
 
Bài viết ngắn này là một bản “thu hoạch” được hình thành sau khi tác giả tham dự khóa học về huấn độc Hán văn do GS. Yamabe Susumu giảng dạy tại Bộ môn Hán Nôm, Khoa Văn học ngày 14-15/2/2011.
2. Cùng nằm trong “Khu vực văn hóa chữ Hán” (漢字文化圈, The Cutural Sphere of Chinese Script), Nhật Bản và Việt Nam đã sớm có những tiếp xúc đầu tiên với chữ Hán và văn bản chữ Hán. Cùng với quá trình tiếp xúc với chữ Hán, việc đọc và học các văn bản Hán văn Trung Quốc cũng liên tục được thúc đẩy qua các đời ở hai nước này. Được quan tâm sớm nhất và nhiều nhất vẫn là những văn bản Hán văn Trung Quốc có nội dung tư tưởng và tôn giáo, đặc biệt là kinh Phật và kinh điển Nho học.
Trong quá trình tiếp cận các văn bản Hán văn (dùng chữ Hán ghi tiếng Hán), tức là một thứ “ngoại ngữ” đối với người Nhật Bản (nói tiếng Nhật, chưa có chữ viết) và người Việt Nam (nói tiếng Việt, chưa có chữ viết), người Nhật và người Việt xưa nhìn chung đều đã đi theo một con đường gồm hai giai đoạn: Giai đoạn một: học chữ Hán và tiếng Hán cổ để đọc hiểu trực tiếp văn bản Hán văn với tư cách một văn bản ngoại ngữ (sinh ngữ hoặc tử ngữ). Giai đoạn hai: “bản địa hóa” các văn bản ngoại ngữ ấy từ góc độ ngôn ngữ học và văn tự học.
Nếu ở Giai đoạn một, tình hình ở Nhật Bản và Việt Nam nhìn chung là giống nhau (cũng như ở Triều Tiên cổ đại), thì ở Giai đoạn hai, người Nhật và người Việt xưa đã có những giải pháp ngữ văn học khác nhau để tiếp cận văn bản Hán văn.
Với người Nhật xưa, giải pháp là sử dụng “huấn độc Hán văn” (漢文訓読, Kanbun Kundoku), tức là sử dụng nguyên vẹn một văn bản Hán văn, nhưng đọc theo âm tiếng Nhật (chứ không phải tiếng Hán), có bổ sung một số kí hiệu “huấn điểm” và chữ cái (Katakana, Hiragana) ghi các trợ từ tiếng Nhật vào bên cạnh cột chữ Hán để hướng dẫn cách đọc và hiểu văn bản. Trong trường hợp đó, người Nhật không cần phải thay đổi trật tự từ trong văn bản Hán văn để phù hợp với trật tự từ trong tiếng Nhật. Về bản chất, huấn độc Hán văn là một phương pháp bổ sung các kí hiệu văn tự học bản địa vào một văn bản ngoại ngữ để điều chỉnh cách đọc và hiểu văn bản ngoại ngữ ấy thành một văn bản tiếng mẹ đẻ dựa trên một sự hiểu biết khá cao của người đọc văn bản ấy về ngoại ngữ ấy. Phương pháp huấn độc có mấy điều lợi sau: 1) Không làm đảo lộn trật tự nguyên bản Hán văn. 2) Chỉ cần bổ sung một số lượng hữu hạn các kí hiệu huấn điểm và trợ từ bằng chữ Katakana. Như vậy là với phương pháp huấn độc Hán văn, người Nhật xưa chưa cần “dịch” (translate) một văn bản Hán văn ra tiếng Nhật thì cũng đã có thể đọc hiểu được văn bản ấy.
Người Việt xưa không định hình được một phương pháp “lợi dụng” văn bản Hán văn để đọc thành tiếng Việt được như người Nhật. Phương pháp đọc hiểu văn bản Hán văn của người Việt xưa, ngoài việc đọc trực tiếp một văn bản Hán văn (cũng giống như người Trung Quốc đọc văn bản ấy), thì chỉ còn cách thứ hai là “dịch” ra tiếng Việt và sử dụng chữ Nôm để ghi lại bản dịch ấy. Bởi chữ Nôm là một thứ văn tự dân tộc được cấu thành dựa trên nền tảng chữ Hán, nên để đọc được chữ Nôm thì cũng phải thành thạo chữ Hán trước. Với những từ ngữ gốc Hán đã được sử dụng nguyên vẹn cả ba bình diện hình thể – âm đọc – ý nghĩa trong tiếng Việt, thì người Việt sử dụng chúng trực tiếp trong văn bản chữ Nôm theo cấu trúc cú pháp tiếng Việt. Số lượng từ ngữ này chiếm khoảng 40-80% từ vựng tiếng Việt. Số phần trăm từ vựng còn lại phải bổ sung bằng chữ Nôm. Về nguyên tắc, việc tạo ra các chữ Nôm trên cơ sở đường nét và phương thức cấu tạo chữ Hán (có thêm một số cách cấu tạo phi Hán) phải dựa trên một hệ thống rất lớn, nếu không muốn nói là vô hạn, các kí hiệu văn tự. Cả chữ Hán và chữ Nôm đều có điểm yếu, xét từ cách mà các văn tự này ghi chép các ngôn ngữ tương ứng, là phải liên tục tạo ra chữ mới để ghi chép những từ mới xuất hiện trong các ngôn ngữ ấy. Có nghĩa là, xét về nguyên tắc, việc tạo chữ mới đó sẽ dẫn đến sự phình to đến quá tải của kho chữ (tự vựng) Hán và Nôm đối với hai thứ ngôn ngữ Trung Quốc và Việt Nam. Đây là điểm yếu đối với một thứ văn tự phái sinh như chữ Nôm mà không “biết rút kinh nghiệm” từ hệ thống văn tự “mẹ đẻ” của nó là chữ Hán. Kho chữ Hán hiện nay đã lên tới khoảng 60.000 chữ; kho chữ Nôm cũng đã thu thập được trên 10.000 chữ, ước đoán có thể lên tới 20.000 chữ.
Người Nhật Bản ngay từ khi mới tiếp xúc với chữ Hán đã có ý thức trừu tượng hóa văn tự thành một nhóm kí hiệu hữu hạn để ghi chép tiếng Nhật, hoặc để điều chỉnh văn bản chữ Hán nhằm ghi chép tiếng Nhật. Từ thời Manyogana (萬葉假名, Vạn diệp giả danh), rồi đến Katakana (片假名, Phiến giả danh) và huấn điểm, đến sau này là Hiragana (平假名, Bình giả danh), đó đều là các hệ thống kí hiệu văn tự hữu hạn. Katakana và Hiragana đều là những hệ thống văn tự ghi âm tiết, mà số lượng âm tiết trong tiếng Nhật là hữu hạn, nên số chữ cái ghi âm tiết trong hai hệ thống văn tự này cũng là hữu hạn. Điều này khiến kho “tự vựng” chữ Nhật Bản không bị quá tải. Điều tương ứng cũng xảy ra đối với Triều Tiên, khi hệ thống văn tự Hangul (諺文, Ngạn văn) hình thành từ thế kỉ 15 đã là một hệ thống văn tự âm vị học, chỉ cần sử dụng một số lượng hữu hạn các kí tự là đủ sức ghi chép toàn bộ lời nói. Trong khi đó, tư duy văn tự của người Việt xưa là tư duy cụ thể, giống như tư duy văn tự của người Hán, tạo ra loại “văn tự ghi từ hoặc ngữ tố” (chữ Hán, chữ Nôm), tức là với đa số từ mới xuất hiện, phải tạo ra chữ mới tương ứng để ghi chép (trừ trường hợp sử dụng phương pháp giả tá, tức là mượn hình thể chữ Hán).
Như vậy, xét theo tư duy văn tự học, với cùng một xuất phát điểm là chữ Hán, người Nhật và người Hàn xưa đã có khả năng trừu tượng hóa văn tự để hình thành nên một hệ thống văn tự chữ cái với các kí hiệu hữu hạn để ghi chép ngôn ngữ bản địa của họ; còn người Việt xưa với tư duy cụ thể đã tạo ra một hệ thống kí tự (chữ Nôm) mà về bản chất là vô hạn để ghi chép tiếng Việt. Từ đó, ở khu vực đồng văn Đông Á xưa có hai nhóm ngôn ngữ - văn tự: 1). Tiếng Nhật và tiếng Hàn với tư cách là những ngôn ngữ chắp dính điển hình, được ghi chép bằng các hệ thống văn tự chữ cái (ghi âm tiết và âm vị) với kí hiệu hữu hạn phái sinh từ chữ Hán. 2). Tiếng Hán và tiếng Việt với tư cách là những ngôn ngữ đơn lập điển hình, được ghi chép bằng hai hệ thống văn tự (ghi từ - âm tiết) là chữ Hán và chữ Nôm với số kí tự khổng lồ.
Tóm lại, các nước đồng văn Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam) đều có xuất phát điểm về văn tự là chữ Hán, nhưng tùy theo tính chất ngôn ngữ học của tiếng nước mình để lựa chọn những giải pháp văn tự riêng, điều này thể hiện sự đa dạng hóa về văn tự ở các nước đồng văn, và cũng thể hiện tính năng sản của chữ Hán, xét trên bình diện phái sinh ra các văn tự khác.
 Hà Nội, tháng 2/2011
Nguyễn Tuấn Cường

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.      Chu Hữu Quang (周有光), Tổng quan về các văn tự theo loại hình chữ Hán (漢字型文字的綜合觀察), (Nguyễn Tuấn Cường dịch từ bản tiếng Trung Quốc), in trong: Nguyễn Tuấn Cường, Hán học Trung Quốc thế kỉ XX, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010, tr. 31-68.
2.      Hannas Wm. C., Asia’s Orthographic Dilemma, Honolulu: University of Hawaii Press, 1997.
3.      Phạm Lê Huy, Quá trình du nhập chữ Hán vào Nhật Bản và Việt Nam – một cái nhìn so sánh, in trong: Phan Hải Linh (chủ biên), Bài giảng chuyên đề nghiên cứu Nhật Bản: Lịch sử văn hóa – xã hội, NXB Thế giới, Hà Nội, 2010, tr. 31-50.
4.      Yamabe Susumu, Vài nét về quá trình tiếp thu và sử dụng chữ Hán tại Nhật Bản, in trong: Tạp chí Hán Nôm, số 6/2008, tr. 41-53.
5.      Yamabe Susumu, Negi Masaru, Vài nét về lịch sử giáo dục Hán văn và sự tiếp nhận Nho giáo ở Nhật Bản, in trong: Tạp chí Hán Nôm, số 3/2010, tr. 9-26.
6.      Yamabe Susumu, Bài giảng về huấn độc Hán văn tại Khoa Văn học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia Hà Nội, Việt Nam, ngày 14-15/2/2011.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét