Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011

Chữ Nôm nhìn từ bộ ba "văn tự - ngôn ngữ - văn hóa"

Tiến trình vận động và phát triển của chữ Nôm:
Nhìn từ mối quan hệ bộ ba “văn tự - ngôn ngữ - văn hóa”

Chữ Nôm (Việt) là một hệ thống văn tự phái sinh từ chữ Hán, dùng để ghi tiếng Việt và truyền tải văn hóa (Việt). Từ đó, các vấn đề lí thuyết lần lượt đặt ra trong nghiên cứu chữ Nôm là:
1). Văn tự học, tức sự hình thành và phương thức cấu tạo của chữ Nôm.
2). Ngôn ngữ học, tức quá trình mà chữ Nôm được sử dụng để ghi chép tiếng Việt.
3). Văn hóa học, tức sự phản ánh văn hóa (Việt Nam) thông qua những ghi chép bằng chữ Nôm.
Nói đến tiến trình vận động và phát triển của chữ Nôm, tức là nói đến cả ba bình diện trên (văn tự, ngôn ngữ, và văn hóa) trong tư thế đan cài với nhau, không thể tách khỏi nhau. 
Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi (1380-1442), 
bản khắc in năm 1868, phản ánh văn tự, ngôn ngữ và văn hóa thế kỉ XV
Việc hình thành chữ Nôm (theo quan niệm chung là khoảng thế kỉ XI-XII) không chỉ phản ánh nhu cầu ghi chép ngôn ngữ tiếng Việt của người Việt, mà còn phản ánh trình độ phát triển của văn minh và văn hóa của người Việt, bởi chữ viết là một trong những yếu tố quan trọng nhất cho một nền văn minh phát triển cao. Tuy là một thứ văn tự phái sinh từ chữ Hán, nhưng chữ Nôm của người Việt đã được sáng tạo ra với không ít những điều mới mẻ so với chữ Hán, xét từ bình diện cấu trúc văn tự. Chẳng hạn: chữ Hán không có kiểu cấu trúc “hội âm”, trong khi đó chữ Nôm có hai cách ghép “hội âm” khác nhau. Người Việt xưa sử dụng chữ Nôm để ghi chép lại ngôn ngữ của mình, qua hệ thống “văn bản Nôm - ngôn ngữ Việt” ấy, người Việt đã kí thác cả một kho tàng văn hóa đồ sộ để gửi gắm tới các thế hệ sau. Đó chính là một thành tố trọng yếu trong dòng mạch truyền thống của dân tộc. 
  
Xuân Hương quốc âm thi tuyển
khắc in chung chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, đầu thế kỉ XX
(kí hiệu sách R.97, Thư viện Quốc gia Việt Nam)

Xem xét sự vận động của chữ Nôm từ góc độ thời gian, trong suốt quãng thời gian từ thế kỉ XI đến nửa đầu thế kỉ XX, chữ Nôm đã thực hiện trọn vẹn vai trò của một thứ văn tự là ghi chép ngôn ngữ Việt để phản ánh văn hóa Việt. Ngôn ngữ tiếng Việt trong khoảng thời gian dài ấy có những biến đổi mạnh trên nhiều bình diện (ngữ âm, từ vựng), những sự biến đổi này được phản ánh rõ nét qua chữ Nôm; hay nói cách khác, chữ Nôm với tư cách văn tự của mình đã làm tròn nhiệm vụ phản ánh kịp thời những sự thay đổi vốn luôn luôn diễn ra trong lịch sử ngôn ngữ Việt. Chẳng hạn, chữ Nôm đã phản ánh hiện tượng tiền âm tiết trong tiếng Việt trước thế kỉ XVII (các tổ hợp phụ âm BL, KL, TL, ML, KR…), hoặc phán ảnh sự tồn tại của hệ thống từ cổ tiếng Việt rất phong phú (thửa, chưng, mựa, bui…). 
Dòng cuối, bên trái: "Luật hình sự tố tụng thi hành trong các tòa nam án Bắc kì"
(trích: Hoàng Việt tăng san tân luật, VNv.123/3, thư viện VNC Hán Nôm
bản Nôm khắc in năm 1923)

Xem xét sự vận động của chữ Nôm từ góc độ không gian, chúng ta thấy rằng chữ Nôm phản ánh tiếng Việt của từng vùng miền, bảo lưu bản sắc ngôn ngữ và bản sắc văn hóa của mỗi địa phương khác nhau. Ví dụ, chữ Nôm ở miền Nam nhiều khi không phân biệt các phụ âm cuối K và T (mặt – mặc), NG và N (tăng - tăn)… Nhiều văn bản Nôm cũng không phân biệt L và N, đây chính là một hiện tượng ngôn ngữ tương đối phổ biến ở một số tỉnh miền Bắc… Đặc điểm này là một lợi thế cần khai thác của chữ Nôm để giúp chúng ta hiểu biết về bản sắc ngôn ngữ và văn hóa của mỗi vùng miền trên đất nước.
Như vậy là người Việt đã sáng tạo và sử dụng chữ Nôm để ghi chép lại tiếng Việt thành các văn bản để lưu truyền qua thời giankhông gian, từ đó giúp cho các thế hệ người Việt có thể lưu truyền vốn văn hóa dân tộc của mình. Trong quá trình vận động và phát triển, chữ Nôm đã thể hiện được vai trò “siêu thời gian” và “siêu không gian” của mình, khắc phục được nhược điểm cố hữu của ngôn ngữ là bị hạn chế về không gian và thời gian, từ đó, chữ Nôm đồng hành với ngôn ngữ Việt để góp phần bảo tồn kho tàng văn hóa Việt Nam trên nhiều bình diện văn hóa: văn học nghệ thuật, tư tưởng triết học, tôn giáo, lịch sử, địa lí, y dược, pháp luật, khoa học tự nhiên…
Hà Nội, tháng 3/2011
Nguyễn Tuấn Cường

4 nhận xét:

  1. em chào anh Nguyễn Tuấn Cường, em cũng là 1 người học Văn (Cử nhân Văn- Đại học Hải Phòng)và bài viết này của anh quả thực rất có ích đối với em.Em cảm ơn đọc được bài viết này...Em là học sinh cũ của chị Bích Liên và đã được nghe kể về anh nhiều, nếu có gì cần thắc mắc e có thể hỏi ý kiến của anh được chứ ạ?

    Trả lờiXóa
  2. cám ơn em đã đọc "mẩu" (chứ không phải "bài" ^^) viết trên. Nếu có gì liên quan đến chuyên môn mà anh giúp được thì sẽ sẵn lòng thôi :-)

    Trả lờiXóa
  3. chào anh Tuấn Cường,

    Tôi là hoạ sĩ, hiện đang tìm hiểu về chữ việt (typography)

    Tình cờ kiếm được bài viết này của anh qua google khi đang tìm ảnh tư liệu cho phần nghiên cứu của mình.

    Do không có điều kiện tới thư viện quốc gia, (vì đang ở nước ngoài)
    nên tôi mạo muội hỏi anh liệu có thể cho tôi xin ảnh ở độ phân giải lớn của tài liệu "Xuân Hương quốc âm thi tuyển, khắc in chung chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, đầu thế kỉ XX" (kí hiệu sách R.97, Thư viện Quốc gia Việt Nam)

    Rất cảm ơn anh.

    Thân mến

    Đam Ca

    Trả lờiXóa
  4. Vì mục đích nghiên cứu, tôi sẵn lòng thôi.
    Mời anh download tại link tôi vừa upload:

    http://www.mediafire.com/?deraaecduvqw2se

    best
    NTC

    Trả lờiXóa