Thứ Ba, 25 tháng 1, 2011

Nghiên cứu Tứ Thư Ước Giải (1): Lược tả văn bản và giải đọc bài Tựa của Lê Quý Đôn

Nghiên cứu Tứ thư ước giải
(Lược tả văn bản và giải đọc bài Tựa của Lê Quý Đôn)

ThS. Nguyễn Tuấn Cường
(Bộ môn Hán Nôm, Khoa Văn học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội)

1. Lược tả văn bản Tứ thư ước giải
2. Phiên âm, dịch nghĩa, chú thích bài Tựa của Lê Quý Đôn
3. Giải đọc bài Tựa của Lê Quý Đôn
4. Một số định hướng tiếp tục nghiên cứu Tứ thư ước giải

Tóm tắt
Tứ thư ước giải là một bộ thư tịch cổ của Việt Nam dịch Nôm và chú giải bộ Tứ thư của Nho gia Trung Quốc. Văn bản duy nhất hiện còn có kí hiệu thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm AB.270/1-5, khắc ván năm 1839 dưới triều vua Minh Mệnh với tổng số 916 trang in; đáng tiếc là độc bản này bị khuyết thiếu khoảng 18% tổng độ dài văn bản. Để chuyển mãgiải mã văn bản trên, bài viết này mới chỉ mang tính khởi đầu qua việc mô tả sơ lược về văn bản, chuyển mã (phiên – dịch – chú) bài Tựa của tác phẩm, và phân tích một số thông tin có thể rút ra được thông qua việc giải đọc bài Tựa ấy, tập trung vào hai vấn đề là thông tin văn bản học và giáo dục Nho học ở bậc sơ học tại Việt Nam chung quanh thời đại của Lê Quý Đôn (khoảng thế kỉ 17-18). Bài viết nhấn mạnh vào hai kết luận sơ bộ: 1). Rất có thể tác phẩm Tứ thư ước giải đã được khắc ván nhiều lần; 2). Lê Quý Đôn nói riêng và Nho gia Việt Nam nói chung đề cao phương pháp giáo dục song hành ngôn ngữ (Hán – Việt) và song hành văn tự (Hán - Nôm) đối với giáo dục Nho học sơ học tại Việt Nam. Cuối bài viết là ba định hướng phác thảo trên con đường tiếp tục nghiên cứu về Tứ thư ước giải: văn bản học và văn hiến học; ngôn ngữ văn tự học; tiếp nhận, thông diễn và giáo dục Nho điển tại Việt Nam.  

Từ khóa: Tứ thư ước giải, văn bản, bài Tựa, Lê Quý Đôn, giáo dục Hán văn, song ngữ, song tự.
 ***
 
1. Lược tả văn bản Tứ thư ước giải
Tứ thư ước giải 四書約解 là một bộ thư tịch cổ của Việt Nam dịch Nôm và chú giải bộ Tứ thư 四書 (gồm 4 cuốn: Đại học 大學, Trung dung 中庸, Luận ngữ 論語, Mạnh tử 孟子, theo thứ tự trong Tứ thư ước giải) của Nho gia Trung Quốc từ tiếng Hán (dùng chữ Hán) sang tiếng Việt (dùng chữ Nôm), có kèm các chú giải bằng Hán văn, phần giải âm bằng chữ Nôm và phần chú giải bằng Hán văn đều ở dạng “lưỡng cước” dưới phần chính văn Tứ thư. Văn bản duy nhất hiện còn lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội, Việt Nam), gồm 5 kí hiệu sách đánh số lần lượt từ AB.270/1 đến AB.270/5. Đây là bản khắc in với tổng số 458 tờ hai mặt (= 916 trang), chữ viết chân phương nhưng không ít chỗ thiếu nét, lạc nét, dễ gây nhầm lẫn trong việc giải đọc văn bản, nhất là phần chữ Nôm. Căn cứ vào phần Mục lục của bản thân cuốn sách (trong kí hiệu sách AB.270/1), và căn cứ vào thứ tự phân quyển ở đầu mỗi quyển (khái niệm quyển của chính bộ Tứ thư ước giải), thì thứ tự kí hiệu sách trong thư viện đánh số từ 1 đến 5 có sự lộn xộn so với cấu trúc nội dung bản giải âm này, thứ tự đúng phải là: AB.270/1, AB.270/3, AB.270/4, AB.270/2, AB.270/5.
Một số thông tin sơ bộ về Tứ thư ước giải đã được chính văn bản này cung cấp qua tờ bìa ở đầu kí hiệu sách AB.270/1 (xin xem ảnh chụp):
- Chính giữa ghi tên sách: Tứ thư ước giải四書約解
- Bên phải ghi niên đại trùng san: Hoàng triều Minh Mệnh nhị thập niên Quế nguyệt cát nhật trùng san皇朝明命貳拾年桂月吉日重 (Khắc lại vào ngày lành tháng Tám (âm lịch) năm thứ 20 niên hiệu Minh Mệnh -1839)
- Bên trái, phía trên ghi tên người hiệu đính: Diên Hà Bảng nhãn quan hiệu đính延河榜眼官校訂 (Quan Bảng nhãn ở Diên Hà hiệu đính). Quan Bảng nhãn ở Diên Hà tức Lê Quý Đôn黎貴惇 (1726-1784), “người xã Diên Hà huyện Diên Hà, nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. […] 27 tuổi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị danh (Bảng nhãn) khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời Lê Hiển tông. Từ thi Hương, thi Hội, đến thi Đình đều đỗ đầu (Tam nguyên)”[1].
- Bên trái, phía dưới ghi nhà in: Úc Văn đường tàng bản 郁文堂藏板 (Nhà in Úc Văn giữ ván khắc). Có điều lạ là, ngay dưới phần đánh số ở góc dưới các trang thuộc phần nội dung của bộ sách này thường khắc ba chữ 海學堂 “Hải Học đường”, đó là tên một cơ sở khắc ván gỗ nổi tiếng ở Hải Dương đầu thời Nguyễn[2]. Đây là một vấn đề khá thú vị, cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu để giải quyết vấn đề văn bản học của Tứ thư ước giải.
Sau một vài khảo sát sơ bộ, có thể tóm tắt phần mô tả tình hình văn bản hiện tồn bằng một số thông tin sau:
Kí hiệu sách
Cấu trúc nội dung
(đã sắp xếp lại thứ tự các kí hiệu sách)
Số tờ
Phần dịch
AB.270/1
(71 tờ)
Bìa sách Tứ thư ước giải
1

Trùng san Tứ thư ước giải tự (chép bài Tựa của Lê Quý Đôn)
3

Tứ thư ước giải mục lục: ghi mục lục lần lượt 19 quyển
Quyển 1:         Đại học
Quyển 2:         Trung dung
Quyển 3-12:  Luận ngữ
Quyển 13-19: Mạnh tử
3

Quyển 1: Tứ thư ước giải Đại học giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ[3] quyển chi nhất
四書約解大學解國音義增補大全備旨卷之一
21
Đại học
Quyển 2: Tứ thư ước giải Trung dung giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ quyển chi nhất
43
Trung dung
Thiếu 7 quyển (quyển 3-9)
AB.270/3
(94 tờ)
Quyển 10: Tứ thư ước giải Luận ngữ giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ quyển chi thập:
Vệ linh công đệ thập ngũ, Quý thị đệ thập lục
18
Luận ngữ
Quyển 11: Tứ thư ước giải Luận ngữ giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ quyển chi thập nhất:
Dương Hoá đệ thập thất, Vi tử đệ thập bát
18
Quyển 12: Tứ thư ước giải Luận ngữ giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ quyển chi thập nhị:
Tử Trương đệ thập cửu, Nghiêu viết đệ nhị thập
13
Quyển 13: Tứ thư ước giải Mạnh tử giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ quyển chi thập tam:
Lương Huệ vương thượng, Lương Huệ vương hạ
45
Mạnh tử
AB.270/4
(90 tờ)
Quyển 14: Tứ thư ước giải Mạnh tử giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ quyển chi thập tứ:
Công Tôn Sửu thượng, Công Tông Sửu hạ
45
Quyển 15: Tứ thư ước giải Mạnh tử giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ quyển chi thập ngũ:
Đằng Văn công thượng, Đằng Văn công hạ
45
AB.270/2
(94 tờ)
Quyển 16: Tứ thư ước giải Mạnh tử giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ quyển chi thập lục:
Li lâu thượng, Li lâu hạ
47
Quyển 17: Tứ thư ước giải Mạnh tử giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ quyển chi thập thất:
Vạn chương thượng, Vạn chương hạ
47
AB.270/5
(109 tờ)
Quyển 18: Tứ thư ước giải Mạnh tử giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ quyển chi thập bát:
Cáo tử thượng, Cáo tử hạ
52
Quyển 19: Tứ thư ước giải Mạnh tử giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ quyển chi thập cửu:
Tận tâm thượng, Tận tâm hạ
57

Tổng số tờ (tờ 2 trang)
458

Tên đầy đủ của mỗi bộ kinh điển trong Tứ thư ước giải là “Tứ thư ước giải xxx giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ (四書約解xxx解國音義增補大全備旨), trong đó xxx lần lượt là nhan đề của một trong Tứ thư. Để giản tiện, xin gọi tắt nhan đề mỗi bộ kinh điển trong Tứ thư ước giải lần lượt là Đại học ước giải, Trung dung ước giải, Luận ngữ ước giải, Mạnh tử ước giải.
Bảng dưới cho thấy hiện trạng đủ hay thiếu của bốn tác phẩm trong Tứ thư ước giải: chỉ có Luận ngữ ước giải là thiếu 14/20 thiên, ba tác phẩm còn lại đều đủ bộ.
Tên sách (tắt)
Kí hiệu sách
Quyển số
Số tờ
Nội dung dịch Nôm
Tình trạng
Đại học ước giải
AB.270/1
Q1
21
Toàn văn Đại học
Đủ
Trung dung ước giải
AB.270/1
Q2
43
Toàn văn Trung dung
Đủ
Luận ngữ ước giải
(thiếu 7 quyển, từ Q3 đến Q9)


Thiếu  14 / 20 thiên
AB.270/3
Q10
18
Vệ Linh công đệ thập ngũ, Quý thị đệ thập lục
AB.270/3
Q11
18
Dương Hoá đệ thập thất, Vi tử đệ thập bát
AB.270/3
Q12
13
Tử Trương đệ thập cửu, Nghiêu viết đệ nhị thập
Mạnh tử ước giải
AB.270/3
Q13
45
Lương Huệ vương thượng, Lương Huệ vương hạ
Đủ
AB.270/4
Q14
45
Công Tôn Sửu thượng, Công Tông Sửu hạ
AB.270/4
Q15
45
Đằng Văn công thượng, Đằng Văn công hạ
AB.270/2
Q16
47
Li lâu thượng, Li lâu hạ
AB.270/2
Q17
47
Vạn chương thượng, Vạn chương hạ
AB.270/5
Q18
52
Cáo tử thượng, Cáo tử hạ
AB.270/5
Q19
57
Tận tâm thượng, Tận tâm hạ
12 quyển
451 tờ
Theo phần Mục lục ở phần đầu kí hiệu sách AB.270/1 thì 7 quyển thiếu sẽ tương ứng với các nội dung sau:
1.      
Quyển 3
Học nhi đệ nhất, Vi chính đệ nhị
Luận ngữ
2.      
Quyển 4
Bát dật đệ tam, Lí nhân đệ tứ
3.      
Quyển 5
Công Dã Tràng đề ngũ, Ung dã đệ lục
4.      
Quyển 6
Thuật nhi đệ thất, Thái bá đệ bát
5.      
Quyển 7
Tử hãn đệ cửu, Hương đảng đệ thập
6.      
Quyển 8
Tiên tiến đệ thập nhất, Nhan Uyên đệ thập nhị
7.      
Quyển 9
Tử Lộ đệ thập tam, Hiến vấn đệ thập tứ
Như vậy có nghĩa là khi ở trạng thái toàn vẹn của nó, bản Tứ thư ước giải đã dịch toàn bộ các thiên (chương) trong Tứ thư (đáng tiếc là 14/20 thiên thuộc Luận ngữ ước giải đã bị thất lạc), điều này góp phần cải chính một nhận định trước đây cho rằng bộ Tứ thư ước giải chỉ “diễn giải bằng chữ Nôm một số chương trong bộ Tứ thư[4].
Nếu coi trung bình mỗi quyển dịch phần Luận ngữ gồm khoảng 15 tờ (ước lượng giá trị từ các quyển 10, 11, 12 dịch Luận ngữ hiện còn), thì 7 quyển bị thiếu sẽ có 7 x 15 = 105 tờ (tờ 2 trang), cộng với số tờ hiện còn: 451 + 105 = 556 tờ = 1112 trang dịch Nôm. Với dung lượng ở trạng thái toàn vẹn ấy, xét về mặt độ dày văn bản thì Tứ thư ước giải không hề kém cạnh so với các bản giải âm kinh điển Nho gia khác (chỉ tính một vài bộ có dung lượng lớn): Tự Đức thánh chế Luận ngữ thích nghĩa ca 嗣德聖制論語釋義歌 (A.186/1-2) có 1110 trang; Xuân Thu đi toàn tiết yếu din nghĩa 春秋大全節要演義 (VNv.115/1-3) có 980 trang, Thi kinh giải âm詩經解音 (HN.527-530, AB.144/1-5) có 976 trang; Thi kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa詩經大全節要演義 (AB.168/1-2) có 804 trang; Dch kinh đi toàn tiết yếu din nghĩa 易經大全節要演義 (VNv.11/1-3) có 768 trang… Tất cả cho thấy một quang cảnh rất phong phú trong việc diễn dịch Nho điển tại Việt Nam thời trung đại. Theo một số liệu thống kê dựa trên bộ thư mục Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu (NXB KHXH, Hà Nội, 1993, 3 tập), có 25 đầu sách “viết bằng chữ Nôm và diễn Nôm” về Tứ thư Ngũ kinh[5]. Con số thực tế chắc chắn không chỉ dừng lại ở đó nếu chúng ta mở rộng phạm vi thư viện để khảo sát. Điều đáng tiếc là cho đến nay, hầu như số lượng thư tịch kinh điển Nho học phiên dịch Hán – Nôm này chưa thu hút được giới nghiên cứu quan tâm đúng mức, mới chỉ có một số nghiên cứu tập trung được tiến hành trên tư liệu gốc về Kinh Thi chữ Nôm[6].
Trong bài viết này, tôi không đặt vấn đề khảo cứu văn bản học tỉ mỉ, mà chỉ mô tả sơ lược vài thông tin về văn bản như trên để tiện làm việc. Dưới đây, bài viết tập trung vào việc giải đọc bài Tựa của Lê Quý Đôn. Cuối bài viết là phác thảo một số hướng nghiên cứu cần thực hiện để có thể khai thác các giá trị của Tứ thư ước giải.
2. Phiên âm, dịch nghĩa, chú thích bài Tựa của Lê Quý Đôn
Nguyên bản Hán văn:
1a: 
 1b:
 2a:
 2b:
 3a:
 3b:

四書約解序
聖賢言行載之四書備矣! 讀者體認而力行之. 修身, 齊家, 治國, 平天下, 舉此而措之, 非難也. 是故河南紫陽兩夫子迭出而發明之, 理學諸儒又從而剖析之, 一字一句<1b>靡不坦然明白. 然而后之學者猶或以為難讀, 又何也?
造化生才, 往往雄之分多, 英之分少. 高明之人見聞敏洽, 一經耳目自然融液貫通, 有何罣礙. 若夫中人以下, 涉獵未多, 識悟不到, 寧無全牛之病. <2a>齠齔之子, 又有甚焉者矣. 彼于五六七歲時僅解尋常言語, 父母教之三四七八之數, 春夏秋冬之序, 尚未能一一領會, 矧其誨之以古人之微旨大義而遽能了了然耶 ! 况我國音語又與中國不同, 教之尤<2b>有難者. 是故先代師儒 方土之音為四書約解增補大全備旨, [7]釐秒忽無所不用其力焉. 其為此輩慮也遠矣.
余少壯從戎, 中年受政, 詩書語孟之訓亦有志而未之能及. 公事之暇, 時或往來家塾, 與子<3a>女弟姪輩遊衍于其間. 每取四書約解誦之輒能辦[8]句讀, 識音義. 其視就傅之初, 嚴父師諄諄乎其前, 而聽之茫如卒莫之覺. 語其功效, 蓋十一而千百也. 鳴呼, 是書之便于誦讀, 如此其至. 昔之人所以待夫中<3b>人以下及齠齔之子者, 不已多乎! 惜其行之有年, 漸有展覽生憎之嘆. 故復登諸剞劂, 與後生晚進共之. 又為之序, 以志余官遊之寶, 且為子孫弟姪輩喜也
Phiên âm:
TRÙNG SAN TỨ THƯ ƯỚC GIẢI TỰ
Thánh hiền ngôn hành tải chi Tứ thư bị hĩ! Độc giả thể nhận nhi lực hành chi. Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, cử thử nhi thố chi, phi nan dã. Thị cố Hà Nam Tử Dương lưỡng phu tử điệt xuất nhi phát minh chi, lí học chư Nho hựu tùng nhi phẫu tích chi, nhất tự nhất cú <1b> mĩ bất thản nhiên minh bạch. Nhiên nhi hậu chi học giả, do hoặc dĩ vi nan độc, hựu hà dã?
Tạo hóa sinh tài, vãng vãng đắc hùng chi phận đa, đắc anh chi phận thiểu. Cao minh chi nhân, kiến văn mẫn hiệp, nhất kinh nhĩ mục tự nhiên dung dịch quán thông, hữu hà quải ngại. Nhược phù trung nhân dĩ hạ, thiệp liệp vị đa, thức ngộ bất đáo, ninh vô toàn ngưu chi bệnh. Chí <2a> ư điều sấn chi tử, hựu hữu thậm yên giả hĩ. Bỉ vu ngũ lục thất tuế thì, cẩn giải tầm thường ngôn ngữ, phụ mẫu giáo chi tam tứ thất bát chi số, xuân hạ thu đông chi tự, thượng vị năng nhất nhất lĩnh hội, thẩn kì hối chi dĩ cổ nhân chi vi chỉ đại nghĩa, nhi cự năng liễu liễu nhiên da! Huống ngã quốc âm ngữ hựu dữ Trung Quốc bất đồng, giáo chi vưu <2b> hữu nan giả. Thị cố tiên đại sư Nho diễn phương thổ chi âm vi Tứ thư ước giải tăng bổ đại toàn bị chỉ, hào li miểu hốt vô sở bất dụng kì công lực yên. Kì vị thử bối lự dã viễn hĩ.
Dư thiếu tráng tùng nhung, trung niên thụ chính. Thi, Thư, Luận, Mạnh chi huấn diệc hữu chí nhi vị chi năng cập. Công sự chi hạ, thì hoặc vãng lai gia thục, dữ <3a> tử nữ đệ điệt bối du diễn vu kì gian. Mỗi thủ Tứ thư ước giải tụng chi, triếp năng biện cú đậu, thức âm nghĩa. Kì thị tựu phó chi sơ, nghiêm phụ sư truân truân hồ kì tiền, nhi thính chi mang như tốt mạc chi giác. Ngữ kì công hiệu, cái thập nhất nhi thiên bách dã. Ô hô, thị thư chi tiện vu tụng độc, như thử kì chí. Tích chi nhân sở dĩ đãi phù trung <3b> nhân dĩ hạ cập điều sấn chi tử giả, bất dĩ đa hồ! Tích kì hành chi hữu niên, tiệm hữu triển lãm sinh tăng chi thán. Cố phục đăng chư kỉ quyết, dữ hậu sinh vãn tiến cộng chi. Hựu vị chi tự, dĩ chí dư quan du chi bảo, thả vi tử tôn đệ điệt bối hỉ dã.
Dịch nghĩa:
BÀI TỰA CHO BẢN TỨ THƯ ƯỚC GIẢI KHẮC LẠI
<1a> Lời nói và việc làm của thánh hiền được ghi chép đầy đủ trong Tứ thư, người đọc thể nhận mà ra sức noi theo. Những việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, cứ theo Tứ thư mà thi hành thì không khó. Vậy nên hai [thế hệ] Hà Nam phu tử và Tử Dương phu tử[9] lần lượt xuất hiện để làm sáng tỏ Tứ thư, các nhà Nho theo lí học lại noi theo mà cắt nghĩa Tứ thư. Chữ nào câu nào <1b> cũng được sáng tỏ rõ ràng. Nhưng vẫn còn có kẻ hậu học cho rằng khó đọc, tại sao lại thế?
Tạo hóa sinh ra tài năng, thường thì được nhiều phần “hùng” [mạnh khỏe] mà được ít phần “anh” [tài trí]. Người cao minh thì kiến thức thông tuệ, xem lướt nghe qua là tự nhiên thấm nhuần, thông hiểu chẳng trở ngại gì. Còn đối với những kẻ trung bình trở xuống, từng trải chưa nhiều, thức ngộ chẳng thấu, thì sao thông tỏ cho được! <2a> Còn lũ trẻ miệng còn hôi sữa, thì lại càng khó khăn hơn nữa. Chúng ở tuổi lên năm sáu bảy, chỉ hiểu những lời nói bình thường, cha mẹ dạy cho biết số đếm một hai ba bốn, các mùa xuân hạ thu đông, mà còn chưa lĩnh hội hết được, thì sao dạy nổi cái ý sâu nghĩa lớn của cổ nhân để chúng nhanh chóng hiểu cho trọn vẹn! Huống hồ, tiếng quốc âm nước ta lại khác với Trung Quốc, việc dạy dỗ <2b> lại càng khó. Vậy nên các bậc tiên Nho mới diễn ra âm bản địa làm bộ Tứ thư ước giải tăng bổ đại toàn bị chỉ, để tâm sức tới cả những điều nhỏ bé nhất. Họ đã sớm lo nghĩ cho những kẻ [trung bình trở xuống và miệng còn hôi sữa] kia vậy.
Ta thời tuổi trẻ theo binh đao, lúc trung niên làm chính trị, cũng thường để chí vào lời dạy trong Kinh Thi, Kinh Thư, Luận ngữ, Mạnh tử..., nhưng chưa được đến nơi đến chốn. Lúc rảnh việc quan, có khi đến trường nhà, chơi đùa cùng đám <3a> con em ở đó, mỗi khi chúng cầm đọc bộ Tứ thư ước giải thì đều có thể biết ngắt câu, hiểu âm nghĩa. Nhớ lại lúc chúng mới đi học, thầy cha nghiêm khắc giảng đi giảng lại ngay trước mặt, mà chúng nghe lơ mơ như chẳng hiểu chút nào. Nói về hiệu quả [của Tứ thư ước giải], thì đúng là dạy một biết mười vậy! Ôi, sách ấy thật là thuận tiện cho việc ngâm đọc biết bao! Xưa có biết bao kẻ ở vào mức trung bình <3b> trở xuống và những kẻ miệng còn hôi sữa đã phải tiếc cho công sức nhiều năm, dần dần phải than lời chờ hoài thêm chán! Vì vậy lại gửi sách ấy cho thợ khắc in, để kẻ sinh sau đẻ muộn cùng được đọc. Lại làm bài tựa cho sách này, để ghi những điều hay trong lúc ta rảnh rỗi việc quan, cũng là để làm vui đám con cháu.
3. Giải đọc bài Tựa của Lê Quý Đôn
Từ bài Tựa trên có thể nhìn ra một số thông tin về niên đại văn bản và quá trình truyền bản; mục đích và giá trị của Tứ thư ước giải đối với giáo dục Nho học đương thời qua quan điểm của học giả Lê Quý Đôn.
3.1. Vài thông tin ban đầu về niên đại văn bản và quá trình truyền bản
Bài Tựa trên không ghi niên đại, nhưng tất nhiên nó phải được viết trước khi Lê Quý Đôn黎貴惇 (1726-1784) qua đời, tức là từ năm 1784 trở về trước. Lê Quý Đôn cho biết rằng “các bậc tiên Nho mới đưa tiếng bản địa vào mà làm ra bộ Tứ thư ước giải tăng bổ đại toàn bị chỉ”, “Lúc rảnh việc quan, có khi đến trường nhà, chơi đùa cùng đám con em ở đó, mỗi khi chúng cầm đọc bộ Tứ thư ước giải thì đều có thể biết ngắt câu, hiểu âm nghĩa”, có nghĩa là Lê Quý Đôn đã sử dụng một bản giải âm Tứ thư ước giải đã khắc in và lưu hành ở thời ấy để làm tài liệu dạy học trong trường nhà (gia thục), rồi nhận thấy giá trị của nó đối với giáo dục Nho học ở bậc sơ học, nên đã đưa đi khắc in lại lần nữa.
Từ đây, có thể đoán định một cách có cơ sở rằng, bộ Tứ thư ước giải đã được khắc ván gỗ ít nhất 3 lần:
- Lần A sẽ cho ra sản phẩm là văn bản mà Lê Quý Đôn sử dụng để dạy học trong trường nhà (như lời bài Tựa: “mỗi khi chúng cầm đọc bộ Tứ thư ước giải thì đều có thể biết ngắt câu, hiểu âm nghĩa”).
- Lần B là do ông “phục đăng chư kỉ quyết復登諸剞劂 (lại đưa cho thợ khắc, xem bài Tựa) sau khi đã hiệu đính và bổ sung bài Tựa, việc khắc in lần này rất có thể hoàn thành ngay khi ông còn sống, tức là trong quãng thời gian từ khi ông làm quan (để có thể “rảnh việc quan”) đến khi ông mất, nghĩa là khoảng 1752-1784[10]. Tên bài Tựa cũng là “Trùng san Tứ thư ước giải tự” 重四書約解序 = “Bài Tựa cho bản Tứ thư ước giải khắc lại”, nghĩa là bản khắc ván lần A chưa có bài Tựa này.
- Lần C là lần “trùng san” 重(khắc in lại[11], xem trang bìa) vào năm thứ 20 niên hiệu Minh Mệnh (1839), tức là văn bản duy nhất hiện còn, kí hiệu AB.270/1-5, lưu trữ trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bản khắc ván lần này dựa vào bản khắc ván lần B (hoặc một bản trước đó cũng dựa vào bản khắc ván lần B), vì bản ấy có lời Tựa của Lê Quý Đôn, phần mà bản khắc ván lần A chưa có. Trong lần trùng san này, rất có thể người ta đã lược bỏ dòng lạc khoản của bài Tựa của Lê Quý Đôn ở lần khắc ván trước, bởi với phong cách khảo cứu quen thuộc của mình, Lê Quy Đôn hẳn phải ghi chép tỉ mỉ ngày tháng viết Tựa rồi mới “phục đăng chư kỉ quyết”.
Dấu ấn của hai lần khắc B và C chính là các chữ phục trùng 重 (đều có nghĩa là “lại, thêm một lần nữa”) trong bài Tựa và trong trang bìa bộ Tứ thư ước giải hiện còn. Hiện tượng khắc in nhiều lần như vậy cũng khá tương đồng với việc khắc in nhiều lần các bản dịch Nôm Kinh Thi trong thời trung đại. Bản Thi kinh giải âm 詩經解音 được khắc ván năm 1714 đời Lê, khắc lại có vi chỉnh vào năm 1792 đời Quang Trung, rồi cũng dựa trên những văn bản ấy, người ta thực hiện công việc biên tập, sửa chữa, dịch lại một phần để khắc ván liên tục hai lần nữa vào các năm 1836 và 1837 đời Nguyễn. Nhưng nếu cả bốn bản dịch Nôm Kinh Thi này đều may mắn còn tồn tại đến ngày nay, thì qua những tư liệu hiện còn, Tứ thư ước giải không có được cái may mắn đó!
Một điều nữa cần nói là, dù Lê Quý Đôn trước tác khá nhiều nhưng sách của ông chưa bao giờ được khắc in[12]. Vậy mà ông lại không ngần ngại đưa bộ Tứ thư ước giải tới hơn 1.100 trang đi khắc in, điều đó càng chứng tỏ sự trân trọng của quan Bảng nhãn Diên Hà đối với tác phẩm đối dịch Hán - Nôm này.
3.2. Tứ thư ước giải và phương pháp “song ngữ - song tự” trong giáo dục Nho học bậc sơ học
Trong quan niệm của Lê Quý Đôn, nếu chia theo độ tuổi thì có hai nhóm người có thể là đối tượng của giáo dục Nho học sơ học (thông qua Tứ thư). Một là nhóm người lớn tuổi, hai là nhóm trẻ em. Lê Quý Đôn tập trung nói về những khó khăn của nhóm trẻ em khi học Tứ thư.
Đối với nhóm người lớn tuổi, ông chia thành hai phân nhóm: “cao minh” và “trung nhân dĩ hạ” 中人以下 (người trung bình trở xuống). Hai phân nhóm này khác hẳn nhau về khả năng nhận thức, vậy nên việc học và hiểu Nho điển cũng khác hẳn nhau:
“Người cao minh thì kiến thức thông tuệ, xem lướt nghe qua là tự nhiên thấm nhuần, thông hiểu chẳng trở ngại gì. Còn đối với những kẻ trung bình trở xuống, từng trải chưa nhiều, thức ngộ chẳng thấu, thì sao thông tỏ cho được!”.
Đối với nhóm trẻ em khoảng 5-7 tuổi là bắt đầu đi học (“Chúng ở tuổi lên năm sáu bảy”), “thầy cha nghiêm khắc giảng đi giảng lại ngay trước mặt, mà chúng nghe lơ mơ như chẳng hiểu chút nào”, nghĩa là lúc ấy tư duy của trẻ chưa đủ để hiểu ngay những “vi chỉ đại nghĩa” 微旨大義 trong kinh điển Nho học. Lê Quý Đôn đưa ra hai nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này: một phần vì tư duy trừu tượng của trẻ chưa đủ phát triển, một phần vì rào cản ngoại ngữ:
“Còn lũ trẻ miệng còn hôi sữa, thì lại càng khó khăn hơn nữa. Chúng ở tuổi lên năm sáu bảy, chỉ hiểu những lời nói bình thường, cha mẹ dạy cho biết số đếm một hai ba bốn, các mùa xuân hạ thu đông, mà còn chưa lĩnh hội hết được, thì sao dạy nổi cái ý sâu nghĩa lớn của cổ nhân để chúng nhanh chóng hiểu cho trọn vẹn! Huống hồ, tiếng quốc âm nước ta lại khác với Trung Quốc, việc dạy dỗ lại càng khó”.
Cả hai nhóm người lớn “trung nhân dĩ hạ” và trẻ em đều có những khó khăn riêng trong việc học Nho điển. Lê Quý Đôn đánh giá cao một giải pháp để tháo gỡ khó khăn chung này, đó là: học nguyên bản Nho điển bằng Hán văn thông qua một bản dịch tiếng Việt (ghi bằng chữ Nôm) và có chú giải bằng Hán văn (giống như mô hình bộ Tứ thư ước giải), tất nhiên không thể thiếu một sự hướng dẫn nghiêm khắc của thầy học. Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ phải có một bản dịch tiếng Việt, bởi người học rất khó tiếp thu trực tiếp từ một thứ ngôn ngữ ngoại lai (tiếng Hán cổ đại trong nguyên bản Tứ thư – một thứ tử ngữ với người Việt đương thời), khó đến nỗi “xưa có biết bao kẻ ở vào mức trung bình trở xuống và những kẻ miệng còn hôi sữa đã phải tiếc cho công sức nhiều năm, dần dần phải than lời chờ hoài thêm chán!”. Việc có một bản dịch quốc âm sẽ trợ giúp rất nhiều cho những người sơ học. Mục đích của phần giải âm trong Tứ thư ước giải là để dạy cho các đối tượng “trung bình trở xuống” (trung nhân dĩ hạ) và “lũ trẻ miệng còn hôi sữa”, giúp cho các đối tượng này có một con đường để vượt qua rào cản ngoại ngữ ban đầu, từ đó dần tiếp cận với “vi chỉ đại nghĩa” ẩn chứa trong kinh điển Nho học. Rõ ràng là Lê Quý Đôn đánh giá rất cao hiệu quả giáo dục của Tứ thư ước giải:
“Lúc rảnh việc quan, có khi đến trường nhà, chơi đùa cùng đám con em ở đó, mỗi khi chúng cầm đọc bộ Tứ thư ước giải thì đều có thể biết ngắt câu, hiểu âm nghĩa. Nhớ lại lúc chúng mới đi học, thầy cha nghiêm khắc dạy đi dạy lại ngay trước mặt, mà chúng nghe lơ mơ như chẳng hiểu chút nào. Nói về hiệu quả [của Tứ thư ước giải], thì đúng là dạy một biết mười vậy! Ôi, sách ấy thật là thuận tiện cho việc ngâm đọc biết bao!”.
Giá trị của bài Tựa trùng san Tứ thư ước giải này nằm ở chỗ, nó là một quan điểm hiển ngôn của Lê Quý Đôn khiến chúng ta phải nhìn nhận lại về những mục đích của các bản dịch Nôm kinh điển Nho gia nói chung. Vấn đề này có thể có nhiều cách tiếp cận, nhưng nếu nhìn từ góc độ giáo dục ngữ văn truyền thống, thì việc Lê Quý Đôn đề cao Tứ thư ước giải chính là thể hiện chủ trương giáo dục Nho học Hán văn ở cấp độ sơ học bằng phương pháp “song ngữ” (Hán – Việt) và “song tự” (Hán – Nôm). Xin lưu ý rằng đây là “giáo dục Nho học Hán văn ở cấp sơ học”, tức là để dạy cho trẻ em đi học chữ Nho, để giúp kẻ sơ học nắm bắt đại thể nội dung của Nho điển, để dễ quảng bá “cái đạo của thánh hiền”, chứ không phải vì mục đích hiểu cho thấu đáo tư tưởng uyên áo, “cật khuất ngao nha” (佶屈聱牙) trong kinh điển Nho học, càng không phải vì mục đích thông diễn (thuyên thích) và phát dương tư tưởng Nho học như truyền thống chú sớ và luận giải kinh điển Nho học ở Trung Quốc.
Hơn nữa, chủ trương giáo dục ấy không phải chỉ là quan điểm của riêng Lê Quý Đôn, mà rất có thể nó còn là đại diện hiển ngôn cho quan điểm hàm ngôn của nhiều Nho gia Việt Nam truyền thống, bằng chứng cho điều này chính là số lượng khá lớn thư tịch cổ Việt Nam hiện tồn đã dịch Nôm các bộ Nho điển của Trung Quốc mà bài viết đã liệt kê ở phần trước: Tự Đức thánh chế Luận ngữ thích nghĩa ca, Xuân Thu đi toàn tiết yếu din nghĩa, Thi kinh giải âm, Thi kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa, Dch kinh đi toàn tiết yếu din nghĩa… Tất nhiên, chúng ta vẫn còn phải bàn thêm xem quan điểm trên của Lê Quý Đôn đại diện đến mức độ nào cho các nhà Nho Việt Nam truyền thống, vấn đề này chỉ có thể được giải quyết trên cơ sở phân tích tư liệu trên diện rộng, điều mà tôi chưa thực hiện được trong bài viết ngắn này.
4. Một số định hướng tiếp tục nghiên cứu Tứ thư ước giải
Việc nghiên cứu Tứ thư ước giải có thể chia làm 2 công đọan: chuyển mãgiải mã. Khâu chuyển mã nghĩa là phiên âm (phần Nôm) và dịch (phần Hán) tác phẩm này ra tiếng Việt hiện đại, kèm theo các chú giải cần thiết. Đây là công việc bắt buộc và tiên quyết. Khâu giải mã có 3 định hướng chủ yếu sau:
Văn bản học và văn hiến học: vấn đề người giải âm, niên đại của tác phẩm giải âm (niên đại tác phẩm, chứ không phải niên đại văn bản AB.270/1-5), phải chăng tác phẩm này thuộc “phong trào quốc văn” (nếu có thể dùng thuật ngữ này!) ở thời điểm cuối thế kỉ 17 - đầu thế kỉ 18, việc dịch Nôm và khắc in sách Nôm thời đó thực sự đã diễn ra như thế nào khi mà hiện nay ta vẫn còn giữ được ít nhất hai tác phẩm Nôm tương đối hoành tráng được khắc in với những truyền bản sớm nhất hiện biết đúng vào thời kì ấy: Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú (Kế Thiện đường, 1714, hiện lưu tại Nhật Bản), Thi kinh giải âm (Kế Thiện đường, 1714, Thư viện Viện Văn học), Lê Quý Đôn đã “hiệu đính” văn bản như thế nào, hay là ông chỉ viết thêm bài Tựa? Sự chuyển dịch văn bản qua mỗi lần khắc lại?
Ngôn ngữ văn tự học: văn tự học chữ Nôm, chính tả chữ Nôm[13], sự tương thích giữa niên đại văn bản và niên đại văn tự trong bản Tứ thư ước giải hiện còn; ngôn ngữ tiếng Việt đương thời (tiếng Việt qua văn xuôi chứ không phải tiếng Việt qua thơ – một thứ ngôn ngữ tu từ hóa) thể hiện qua các bình diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, thủ pháp dịch thuật.
Tiếp nhận, thông diễn và giáo dục Nho điển tại Việt Nam: phương pháp giáo dục Nho học (đặc biệt là với đối tượng sơ học), tình trạng của giáo dục Nho gia đương thời, sự can thiệp của Nho gia Việt Nam vào các văn bản Nho điển thể hiện qua việc họ giữ gì, bỏ gì, thêm gì (thủ – xả, bút – tước), tiếp nhận và thông diễn ra sao đối với nguyên tác và các bản chú của Trung Quốc.
Tôi mong sẽ có dịp trình bày lần lượt các vấn đề trên trong các bài viết tiếp theo.
Hà Nội, tháng 4/2009
Nguyễn Tuấn Cường
 
Bài viết tham gia Hội thảo khoa học: Kinh điển Nho gia tại Việt Nam, tổ chức tại Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 19/12/2009, đang in Kỉ yếu Hội thảo.
Xem thông tin về Hội thảo tại:
hoặc

Bài đã đăng trên: Tạp chí Hán Nôm, số 6 (103) năm 2010, tr. 37-49.
Bản đăng trên Tạp chí Hán Nôm đã lược bỏ phần Tóm tắt và Từ khóa. 

[1] Theo: Ngô Đức Thọ (chủ biên), Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919, NXB Văn học, Hà Nội, 2006, tr. 610-611.
[2] Xem thêm: Nguyễn Thị Dương, Hải Học đường: Một nhà in sách nổi tiếng đầu thời Nguyễn, in trong: Thông báo Hán Nôm học 1997, NXB Khoa học Xã hội, 1998, tr. 91-97.
[3] Chữ chỉ ở tờ trang 1a quyển 1 viết thiếu phần dưới thành chữ thượng , căn cứ vào cách đặt tên quyển ở những quyển còn lại, thậm chí cũng đúng dòng tên quyển này một này được khắc lại ở cuối tờ 21 cùng quyển, thì ở đây phải là chữ chỉ mới đúng. Vả lại, ở đầu và cuối các quyển khác khi khắc tên quyển cũng thống nhất dùng chữ chỉ, vậy nên sửa như trên.
[4] Trần Nghĩa & F. Gros chủ biên, Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, NXB KHXH, Hà Nội, 1993, tập III, tr. 496. Cuốn sách này chỉ dành vỏn vẹn một câu “Diễn giải bằng chữ Nôm một số chương trong bộ Tứ thư” để làm đề yếu cho Tứ thư ước giải.
[5] Trịnh Khắc Mạnh, Thư tịch Hán Nôm Việt Nam luận giải về Tứ thư và Ngũ kinh hiện có ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, in trong: Nho giáo ở Việt Nam, (Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế), NXB KHXH, H. 2006, tr. 133-149.
[6] Những nghiên cứu trên cơ sở tư liệu gốc về Kinh Thi chữ Nôm, xin xem:
- Nguyễn Quang Hồng, Nguyễn Tuấn Cường, Thi kinh giải âm: Văn bản sớm nhất hiện còn in theo ván khắc năm Vĩnh Thịnh 1714, in trong: Tạp chí Hán Nôm, số 3/2005, tr. 36-52.
- Nguyễn Tuấn Cường, Tư liệu Kinh Thi chữ Nôm: Lược quan về trữ lượng, đặc điểm, giá trị, bài viết tham gia Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm lần thứ hai, Huế, 2006, rút gọn và đăng lại trên Tạp chí Hán Nôm, số 1/2007, tr. 48-64.
- Nguyễn Tuấn Cường, Tiếp nhận Kinh Thi tại Việt Nam thời trung đại: từ góc nhìn phiên dịch Hán Nôm. Hội thảo khoa học Quốc tế: “Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế”, do Viện Nghiên cứu Văn học (Việt Nam) và Viện Harvard-Yenching (Mĩ) tổ chức ngày 3-4/11/2006 tại Viện KHXH Việt Nam, Hà Nội (chưa in Kỉ yếu Hội thảo). Hiện đăng tại: www.vienvanhoc.org.vn
- Nguyễn Tuấn Cường, Khảo sát và khai thác giá trị của trữ lượng tư liệu Kinh Thi chữ Nôm, Đề tài Nghiên cứu Khoa học cấp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiệm thu tháng 3 năm 2007, 124 trang khổ A4.
[7] hào, dùng thông với chữ hào , nghĩa là nhỏ bé.
[8] biện, dùng thông với chữ biện, nghĩa là phân tích, xem xét, biện biệt.
[9] Hà Nam phu tử 河南夫子Tử Dương phu tử 紫陽夫子: Hà Nam phu tử tức anh em Trình Hạo 程顥 (1032-1085) và Trình Di 程頤 (1033-1107), người ở tỉnh Hà Nam, nên gọi là Hà Nam phu tử. Tử Dương phu tử tức Chu Hi 朱熹 (1130-1200), do thân phụ của Chu Hi là Chu Tùng 朱松 từng đọc sách ở núi Tử Dương (huyện Hấp tỉnh An Huy安徽), nên sau này Chu Hi gọi phòng sách của mình là Tử Dương thư thất 紫陽 để thể hiện cái ý không quên thân phụ của mình, vì vậy người đời sau gọi Chu Hi là Tử Dương phu tử. Nhị Trình và Chu Hi là hai thế hệ đại Nho của Trung Quốc đời Tống, từng có những đóng góp quan trọng cho luận giải Tứ thư. Trong bộ sách nổi tiếng Tứ thư chương cú tập chú 四書章句集注, tác giả Chu Hi thường xuyên trích dẫn những nghiên cứu của Trình tử về Tứ thư; cụ thể hơn, rất có thể Chu Hi đã trích dẫn những nghiên cứu của Trình Di, người ảnh hưởng đến Chu Hi nhiều hơn, vì tư tưởng của Trình Di mở đường cho Lí học mà Chu Hi là tập đại thành, còn tư tưởng của Trình Hạo lại mở đường cho Tâm học với đại diện là Vương Dương Minh.
Trong bài: Đỗ Thị Bích Tuyển, Bước đầu tìm hiểu, giới thiệu một số bản dịch Nôm Tứ thư hiện lưu trữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm (in trong: Thông báo Hán Nôm học 2006, Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, 2007, tr. 785-794), tác giả bài viết cho rằng: “Theo như ông [Lê Quý Đôn] nói trong bài tựa: Sách Tứ thư để nắm được cương yếu cũng khó. Cho nên Hai vị phu tử ở Tử Dương, Hà Nam đã nghĩ ra cách dịch từ Hán ra Nôm từng từ, từng câu để cho hậu học hiểu rõ ràng, còn chỗ nào chưa hiểu thì tham khảo thêm phần chú kề bên. Hai vị phu tử ở Tử Dương, Hà Nam theo như lời bài tựa nói, hiện chúng tôi chưa tra cứu ra là ai” (tr. 788-789). Rất có thể tác giả bài viết đã hiểu rằng các vị phu tử này là người Việt Nam, hoặc chí ít là biết tiếng Việt và chữ Nôm để có thể “nghĩ ra cách dịch từ Hán ra Nôm”.
[10] Về lí lịch của Lê Quý Đôn, xin xem: Cao Xuân Huy, Lời giới thiệu [sách Vân đài loại ngữ], in trong: Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, Trần Văn Giáp dịch, NXB Văn hóa Thông tin, 2006 (in lần thứ 2), tr. 7-41. Cao Xuân Huy cho biết, Lê Quý Đôn bắt đầu ra làm quan vào năm 1752, được bổ nhiệm chức thụ thư ở Viện Hàn lâm (tr. 8).
[11] Về nghĩa của hai chữ trùng san (khắc lại), xin xem: Đào Thái Tôn, Nghĩa ca hai ch “trùng san” trong bn Truyn Kiu do Duy Minh Th khc in năm 1872, in trong: Tp chí Hán Nôm s 3 năm 2003, tr. 62-71. Đào Thái Tôn cho rằng chữ trùng san trong một vài trường hợp chỉ có nghĩa là sửa chữa, biên tập một văn bản, chứ chưa chắc đã có nghĩa là “khắc in lại”. Tuy nhiên, trong trường hợp bản Tứ thư ước giải này, chữ trùng san hẳn phải có nghĩa là khắc in thêm một lần nữa dựa trên một văn bản đã khắc in trước đó.
[12] Về việc sách do Lê Quý Đôn viết không được in ván khắc, có thể có nhiều nguyên nhân, Cao Xuân Huy đã chỉ ra một nguyên nhân: “Sau khi làm hiệp trấn ở Thuận Hóa và Quảng Nam, Lê Quý Đôn có viết sách Phủ biên tạp lục trong đó ghi chép rõ ràng những chính sách bóc lột của nhân dân của chúa Nguyễn ở phương Nam. Do đó mà Lê Quý Đôn bị hằn thù. Dưới triều Nguyễn không có một bộ sách nào của Lê Quý Đôn được đem in và ban hành” (tài liệu đã dẫn, tr. 17).
[13] Về vấn đề nghiên cứu chính tả chữ Nôm qua Tứ thư ước giải, xin xem: Phạm Văn Khoái, Từ ‘Tứ thư ước giải’ đến ‘Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca’ suy nghĩ về bước vận động xây dựng chính tả chữ Nôm, in trong: Nghiên cứu chữ Nôm (Kỉ yếu Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm tổ chức tại Hà Nội, 2004), NXB Khoa học Xã hội, 2006, tr. 210-215.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét