Thứ Sáu, 12 tháng 11, 2010

Về ngôn ngữ văn tự Trung - Việt: hầu chuyện Lê Mạnh Thát và Hà Văn Thùy (16/3/2008)

Ngồi buồn, lục lại trong máy tính một tư liệu của tôi trước đây đã gửi qua email cho một "học tỉ", đề ngày 16/3/2008, tức là đương lúc vụ "phát hiện lịch sử chấn động" (sic) của bác Lê Mạnh Thát đang huyên náo, phụ họa thêm là bác Hà Văn Thùy với một lô tri thức về Mongoloid. 

Về lịch sử và di truyền thì tôi không bàn ở đây (nói vậy cho nó oách, chứ biết gì mà bàn :-)), chỉ mạo muội góp vài dòng về vấn đề ngôn ngữ và văn tự. 

Xin lưu ý, đây là những nhận xét ngắn gọn để "trao đổi nội bộ" với một "học tỉ", nên rất dễ nhận ra là nó không có dáng dấp của một bài nghiên cứu. Thêm nữa, vài ý và lời trong thư này đã được một số học hữu sử dụng một cách hợp tình.

Link các bài viết liên quan (lược điểm thôi nhé):

  1. Lê Mạnh Thát (xem ở đây cho tiện, đã có link sẵn)
  2. Nguyễn Hòa (3/2008)
  3. Trần Trọng Dương 1 (?/?)
  4. Hà Văn Thùy 1 (4/2008)
  5. Trần Trọng Dương 2 (13/5/08)
  6. Hà Văn Thùy 2 (5/2008)
  7. Quách Hiền (?/?)

--------------------

Thư gửi XXX
Hà Nội, ngày 16/3/2008

1. Về vấn đề ngôn ngữ
Để biểu thị cấu trúc chính phụ thể từ tính, các ngôn ngữ trên thế giới có hai lựa chọn: định – trung, hoặc trung – định. Trong các văn bản tiếng Hán cổ đại hiện tồn (đều là các văn bản từ đời Thương trở về sau), lựa chọn của tiếng Hán là định – trung, và còn rơi rớt một số trung – định (không nhiều, nhưng ít ra là nhiều hơn rất nhiều so với những ví dụ mà hai ông Lê Mạnh Thát và Hà Văn Thùy đưa ra, có thể đếm mỏi tay các ví dụ loại này trong hàng trăm sách/ báo/ luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ về ngữ pháp kim văn, ngữ pháp giáp cốt văn mới xuất bản tại Trung Quốc trong khoảng hơn chục năm trở lại đây). Những rơi rớt này là do hệ quả lịch sử của tự thân quá trình phát triển của tiếng Hán thời trước đó (viễn cổ):
Theo nhiều nghiên cứu của giới Hán ngữ học (Mantaro Hashimoto 1980, Trần Kì Quang 1990, Cao Hoa Niên 1992, Cù Yết Đường & Kính Tùng 2000, Đinh Bang Tân 2000, Lưu Trung Hoa 2003, Trịnh Hưng Phương & Trương Kì 2005, Cliff Goddard 2005…) cho biết, trong tiếng Hán thời viễn cổ (trước thời nhà Thương), cấu trúc chính phụ thể từ tính (mà tiếng Hán hiện đại gọi là cấu trúc định ngữ - trung tâm ngữ) từng có trật tự là trung – định, từ thời Thương Chu trở đi thì dần dần biến thành định – trung.
Hơn nữa, nhiều ngôn ngữ họ hàng với tiếng Hán cũng có mô thức cấu trúc trung – định, như nhiều ngôn ngữ thuộc các ngữ tộc Tạng – Miến, Miêu – Dao, Đồng – Thái. Dựa trên những quan hệ cội nguồn của tiếng Hán với những thuộc các ngữ tộc trên, có thể thấy hiện tượng cấu trúc trung – định còn rơi rớt trong tiếng Hán cổ đại là sản phẩm di duệ của thời kì tiếp xúc với các ngữ tộc trên, chứ không phải ảnh hưởng từ tiếng Việt.
Ngoài ra, nhiều phương ngôn của tiếng Hán hiện nay cũng vẫn còn bảo tồn mô thức cấu trúc trung – định, như trong các phương ngôn Việt, Mân chẳng hạn.
Vậy thì cấu trúc trung – định, dù hiện tồn không nhiều trong tiếng Hán (chủ yếu là sót lại trong các văn bản tiếng Hán cổ), nhưng đó là sản phẩm tự thân của tiếng Hán trong quá trình phát triển của thứ tiếng này, và quá trình ấy độc lập với sự tồn tại của cái khái niệm “tiếng Việt” mà ngày nay người Việt ta nói, theo nghĩa ngôn ngữ học. Cứ giả như tiếng Hán viễn cổ vay mượn cấu trúc trung – định từ một thứ tiếng khác đi chăng nữa, thì hà cớ gì đó nhất định phải là tiếng Việt, trong khi có hàng loạt thứ tiếng (ngoài tiếng Việt) có đặc trưng trung – định đã từng tiếp xúc khá “thân mật” với tiếng Hán?
Cũng cần nói thêm rằng, theo nghĩa ngôn ngữ học, khái niệm “tiếng Việt” mà chúng ta đang sử dụng ngày nay chỉ xuất hiện cách đây trên 1.000 năm, khi “tiếng Việt – Mường chung” tách đôi thành “tiếng Việt” và “tiếng Mường”. Trước thời gian này, các dạng hình hài mang tính tổ tiên của thứ “tiếng Việt” ấy (chứ chưa phải là thứ “tiếng Việt” ấy) còn lẫn trong các (nhóm) ngôn ngữ Mon – Khmer, Việt – Katu, rồi proto Việt – Chứt, tiền Việt – Chứt, rồi Việt Mường chung (Nguyễn Ngọc San 2003). Đấy là tổng hợp con đường phát triển của lịch sử tiếng Việt dựa trên cơ sở những nghiên cứu của hàng loạt học giả Tây-Tàu-Ta. Vậy không thể đi từ sự mù mờ trong vấn đề nguồn gốc ngôn ngữ và khái niệm về “thứ tiếng” để “phát hiện” ra một vấn đề lịch sử đầy tính chất “vị chủng” và cũng mù mờ không kém. 
Enthnocentrist: I am the number one, (or at least greater than you)!

2. Về vấn đề văn tự
Với những tri thức quá ít ỏi hiện nay về văn tự cổ bản địa trên lãnh thổ mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam, không ai dám khẳng định rằng “người Việt” (tạm dùng khái niệm này để trỏ quần thể dân cư sống tại vùng đất trên) có văn tự bản địa trước khi chữ Hán du nhập (khoảng tk 2 TCN). Văn tự có những quy luật sinh thành, phát triển, và đào thải của riêng nó. Quy luật đầu tiên là, với một dân tộc có tầm văn minh cao (như tộc Việt (hic!) theo quan niệm của phái “vị chủng văn hóa Việt”), giả sử họ sáng tạo ra một thứ văn tự bản địa, thì thứ văn tự ấy không thể biến mất bặt tăm bặt tích (không thấy trên đồng, đá, cổ vật khai quật…, cũng không nên nhắc lại huyền tích về cái thứ gọi là bãi đá cổ Sapa nữa, không thì học giới người ta cười cho), mà cũng không thể dựa vào những ghi chép của người Việt xưa vốn sớm đã ngào ngạt mùi “vị chủng” (tự bơm phổng mình để khỏi thua kém tay hàng xóm cao to) về những thứ khoa đẩu và nòng nọc. Bởi, nếu có một thứ văn tự bản địa, thì thứ văn tự ấy chắc chắn sẽ phù hợp hơn (so với văn tự Hán) để ghi chép tiếng Việt, khi ấy người Việt (vốn “thông minh” lắm cơ mà, theo như ông Thát ông Thùy!) chẳng dại gì mà vứt bỏ thứ văn tự ấy để cưỡng dụng một thứ văn tự ngoại lai vốn không thể thích dụng với tiếng Việt. Cũng xin đừng nhầm lẫn các văn tự dân tộc thiểu số (Thái, Dao, Ngạn, Tày-Nùng…) vốn xuất hiện khá muộn, với văn tự cổ của người Kinh. Như Vương Duy Trinh (một người có cả Tàu học lẫn Tây học), trong Thanh Hóa Quan Phong khắc in đầu thế kỉ 20 mà còn gán bừa cho chữ Thái là chữ khoa đẩu, nòng nọc, thì sao có thể tin vào những ghi chép của Ta và Tàu từ mãi tận ngày xưa về khoa đẩu với chả nòng nọc.
Trong lịch sử tiếp xúc với chữ Hán và tiếng Hán, người Việt có một điều, mà lúc đầu thì là lợi còn sau này thì là hại, đó là sự tương đồng về loại hình học ngôn ngữ giữa tiếng Việt với tiếng Hán (cùng là đơn lập âm tiết tính, không như Triều Tiên và Nhật Bản là chắp dính). Ỷ lại vào sự tương đồng này, người Việt xưa lười nhác trong việc sáng tạo văn tự bản địa sau khi tiếng Hán đã du nhập. Đến khi có chữ Nôm (mà đặc trưng của nó là ảnh hưởng quá nặng nề từ chữ Hán), thì nhà cầm quyền cũng không có các động thái đủ quyết liệt để đưa văn tự bản địa ấy vào hành chính và giáo dục, tức là “quan phương hóa” nó. Đến cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, vì cho rằng chữ Hán và cả chữ Nôm không thể thích dụng trong việc ghi lại tiếng Việt, nên đã có ít nhất 04 giải pháp văn tự Việt bản địa được các cá nhân đưa ra (Nguyễn Trường Tộ, Nam Thành cư sĩ, Nguyễn Khắc Toản, và An Nam quốc ngữ tân thức của Vô Danh Thị), điều này cho thấy “nước đến chân mới nhảy" là một môn thể thao ưa thích của người Việt!
Tóm lại, về vấn đề văn tự bản địa, Hà Văn Tấn với tư cách là nhà khảo cổ học lớn nhất Việt Nam đã khẳng định rằng, với những tư liệu hiện biết, chưa thể khẳng định về một thứ văn tự bản địa nào từng tồn tại trước khi chữ Hán du nhập Việt Nam. Cộng thêm những phân tích về tư tưởng văn tự như trên, việc gán cho người Việt cổ một thứ văn tự bản địa khoa đẩu hay hỏa tự nào đó là thiếu cơ sở khoa học. 
--------------------

1 nhận xét:

  1. đồng ý với quan điểm của bạn Trần Trọng Dương: "rất khó thảo luận với ông Hà Văn Thùy", vì ổng không hiểu ngôn ngữ khoa học của các ngành ngôn ngữ học và văn tự học, nên thường xuyên dùng khái niệm một cách lung tung vì không hiểu, hoặc giả có hiểu thì cũng cố tình đánh tráo khái niệm. Vừa đọc một bài của HVT do người khác gửi tới, muốn phản biện Nguyễn Tài Cẩn, haizzz, chắc chắn ông Thùy không thể đọc hiểu nổi những gì Nguyễn Tài Cẩn viết, vậy nên mình không muốn/thể/buồn viết phản biện lại nữa :-((

    Trả lờiXóa