Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2010

Chu Hữu Quang: Nửa ngày nói chuyện văn tự học (dịch II)

CHU HỮU QUANG (100 tuổi)

Giáo sư Chu Hữu Quang là Ủy viên Ban Công tác ngôn ngữ văn tự Quốc gia Trung Quốc. Ông sinh năm1906 tại tỉnh Giang Tô. Hiện nay GS. Chu đã ngoài trăm tuổi, nhưng ông vẫn không ngừng nghiên cứu khoa học, liên tục công bố những nghiên cứu mới về văn tự học, và tổ chức các buổi thuyết trình với các nhà nghiên cứu trẻ về văn tự học. Ông là nhà văn tự học hiện đại hàng đầu Trung Quốc, với những đóng góp nổi trội ở các lĩnh vực: Hán tự học, cải cách văn tự Hán, văn tự học đại cương, lịch sử văn tự thế giới, quy luật phát triển văn tự thế giới, văn tự học so sánh…[Giới thiệu của người dịch]

Có một số vị khách còn trẻ tuổi đến nhà tôi, mang tặng một bó hoa tươi, ngồi nói chuyện say sưa về vấn đề văn tự học, mọi người hết sức vui vẻ! Dưới đây là những điểm chủ yếu trong cuộc nói chuyện.
1. Về tên gọi và nội dung cơ bản của văn tự học.
Khách: Chúng tôi đều đã đọc sách của GS, có nhiều vấn đề cần phải thỉnh giáo. Đầu tiên là vạch phân cách giữa văn tự học với Hán tự học, quan điểm của GS và những người khác không giống nhau.
Chủ: Thời cổ đại gọi là “tiểu học”, cuối đời Thanh gọi là “văn tự học”, đến những năm 1950 gọi là “Hán tự học”, đã nhận thức được rằng “Hán tự học” là một bộ phận của “văn tự học”. Hiện nay gần như không còn ai gọi là “tiểu học” nữa. “Ngôn ngữ học” (ngôn ngữ học đại cương) và “Hán ngữ học” đã chia tách rõ ràng, thì “văn tự học” (văn tự học nhân loại) và “Hán tự học” cũng cần phải khu biệt minh bạch.
Khách: Có một số học giả không đồng ý với tên gọi “Hán tự học”, họ cho rằng gọi là “văn tự học Trung Quốc” thì hợp lí hơn. Lại có học giả nói rằng “văn tự học Trung Quốc” thì phải bao quát cả những văn tự của các dân tộc thiểu số Trung Quốc.
Chủ: Hán tự học là bộ phận cấu thành của văn tự học, về hàm nghĩa là khá rõ ràng. Hán tự học truyền thống thực ra là “Hán tự học lịch sử”, tách ra một nhánh “Hán tự học hiện đại”, nghiên cứu hiện trạng và ứng dụng của chữ Hán, bao gồm cả xử lí từ ngữ trên máy tính điện tử. Lấy chữ Hán ghi tiếng Hán, và các văn tự theo loại hình chữ Hán ghi các thứ tiếng không phải tiếng Hán làm đối tượng nghiên cứu, thì ta sẽ có “Hán tự học nghĩa rộng”. Lấy văn tự của nhân loại làm đối tượng nghiên cứu thì sẽ có “văn tự học nhân loại”, gọi tắt là “văn tự học”. “Văn tự học so sánh” là một nhánh của văn tự học nhân loại. Đó chính là nội dung cơ bản của văn tự học. Ngoài ra có ngành khoa học liên quan gần gũi đến văn tự học, như “khảo cổ học văn tự”, “văn hóa học chữ Hán”…
2. Về quy luật phát triển của văn tự.
Khách: Có người cho rằng văn tự không phát triển theo quy luật “hình ý âm”, từ “biểu hình” đến “biểu ý” đến “biểu âm”. Lí do là chữ Hán đã dùng 3.000 năm tại Trung Quốc mà vẫn chưa trở thành văn tự ghép âm (pinyin).
Chủ: Quy luật phát triển của văn tự là hiện tượng vĩ mô của hệ thống văn tự. Quy luật có đứng vững hay không thì cần phải nhìn vào sự thật lịch sử. Có loại văn tự đã phát sinh đột biến khi truyền bá từ một dân tộc này sang một dân tộc khác. Ví dụ: chữ hình góc [cuneiform, chữ hình nêm, khế hình văn tự] ở lưu vực Lưỡng Hà là văn tự biểu ý kiêm biểu âm, chỉ khi viết tên người mới dùng trọn vẹn kí hiệu biểu âm; khi truyền sang Tân Elam và Ba Tư cổ thì diễn biến thành văn tự ghi âm tiết biểu âm là chủ yếu, chỉ giữ lại dăm bảy “tự phù” biểu ý; truyền bá đến Ugarit thì diễn biến thành văn tự chữ cái hoàn toàn biểu âm. Lại như: chữ Hán tại Trung Quốc là văn tự biểu ý kiêm biểu âm, truyền sang Nhật Bản sinh ra chữ cái ghi âm tiết “Giả Danh” [Kana]. Có những văn tự đã phát sinh thay đổi ngay cả khi dân tộc mình sử dụng nó. Ví dụ: chữ Di ở Vân Nam là văn tự ý âm kết hợp giữa chữ biểu ý và chữ biểu âm, đến vùng Lương Sơn ở tỉnh Tứ Xuyên thì biến thành văn tự ghi âm biểu âm thuần túy. Lại như: văn tự Đông Ba là văn tự hình ý vừa biểu hình vừa biểu ý, trong khi sử dụng thì nội bộ loại văn tự này đã sinh ra chữ cái ghi âm tiết được sử dụng đồng thời [với chữ ghi hình - ý]; ngoài ra [văn tự Đông Ba] lại làm nảy sinh ra văn tự Ca Ba là văn tự ghi âm tiết. Đó đều phù hợp với quy luật diễn biến “hình ý âm”.
3. Về quan hệ giữa đặc điểm ngôn ngữ với loại hình văn tự.
 Khách: “Đặc điểm của tiếng Hán quyết định việc Trung văn dùng chữ Hán, đặc điểm của tiếng Anh quyết định việc Anh văn dùng chữ cái”, quan điểm này khá phổ biến trong giới trí thức. Gần đây lại có những nhân vật nổi tiếng tuyên truyền như thế. Về vấn đề này, GS đã nhiều lần giải thích khác với họ, nhưng có vẻ người ta còn chưa quan tâm.
Chủ: Tạp chí Thư Ốc (Nhà sách, số 2 năm 2001) có bài viết “Thử bàn về ưu điểm của chữ Hán”, nói rằng: “Nguyên nhân khiến dân tộc Hán không áp dụng văn tự ghép âm mà lại áp dụng văn tự khối vuông là do ngữ âm tiếng Hán quyết định”. “Ngôn ngữ đa âm tiết ở phương Tây quyết định việc người ta áp dụng chữ viết ghép âm, còn ngôn ngữ của dân tộc Hán đã đặc định rằng chỉ có thể dùng chữ khối vuông, đây không phải là vấn đề ai thông minh ai kém thông minh”. Lại một tờ tạp chí khác viết: “Tiếng Hán có âm tiết tách bạch, không có thay đổi từ vĩ, cho nên sáng tạo ra chữ Hán; tiếng Anh âm tiết phức tạp, có thay đổi từ vĩ, cho nên áp dụng chữ cái”. Gần đây lại có mấy tờ báo đưa ra những quan điểm đại đồng tiểu dị, và lại là lời của các bậc đại gia. Những quan điểm này cho rằng “đặc điểm ngôn ngữ quyết định loại hình văn tự”. Nhưng sự thật lịch sử thì hoàn toàn ngược lại. Ngôn ngữ của Triều Tiên và Nhật Bản có đặc điểm khác xa với tiếng Hán, nhưng họ đều áp dụng chữ Hán, bởi chữ Hán theo văn hóa Hán mà truyền đến Triều Tiên và Nhật Bản. Tiếng Hán và tiếng Tạng giống nhau về đặc điểm ngôn ngữ, nhưng tiếng Hán dùng chữ Hán, tiếng Tạng dùng chữ cái, bởi chữ cái Ấn Độ đã lan truyền sang Tây Tạng cùng với văn hóa Ấn Độ. Có hơn 100 quốc gia cùng sử dụng chữ cái La Mã, nhưng đặc điểm ngôn ngữ của các nước này không giống nhau, vì họ cùng tiếp thu văn hóa phương Tây, nên cùng áp dụng chữ cái La Mã. Sự thật lịch sử chứng minh rằng: “sự truyền bá văn hóa quyết định loại hình văn tự”, chứ không phải “đặc điểm ngôn ngữ quyết định loại hình văn tự”.
Khách: Việc phát sinh chữ cái “kana” của Nhật Bản được quyết định bởi đặc điểm ngôn ngữ Nhật Bản, không liên quan đến văn hóa Trung Quốc. Liệu đó có phải là “đặc điểm ngôn ngữ quyết định loại hình văn tự”?
Chủ: Chữ Hán từ Trung Quốc truyền vào Nhật Bản, trải qua 1.000 năm mới sáng tạo ra “chữ cái Kana”. Trước đó 1.000 năm, Nhật Bản chỉ dùng chữ Hán, điều đó phù hợp với câu “sự truyền bá văn hóa quyết định loại hình văn tự”; 1.000 năm sau, họ giản hóa chữ Hán, sáng tạo ra chữ Kana, đây là sự phát triển về sau, nhưng văn tự Nhật Bản chưa loại bỏ hẳn chữ Hán. Việc sáng tạo ra chữ Kana không thể phủ định quy luật “sự truyền bá văn hóa quyết định loại hình văn tự”.
4. Về việc phân kì lịch sử văn tự nhân loại.
Khách: Trong cuốn “Lịch sử phát triển của văn tự thế giới” (Thế giới văn tự phát triển sử), GS xếp chữ Hán vào loại “văn tự cổ điển”. Có người không đồng ý, họ cho rằng như thế là hạ thấp vị trí của chữ Hán.
Chủ: Lịch sử văn tự thế giới chia làm 3 thời kì: 1. Văn tự nguyên thủy; 2. Văn tự cổ điển; 3. Văn tự chữ cái. Chữ Hán không phải văn tự nguyên thủy, cũng không phải văn tự chữ cái; bản chất của chữ Hán thuộc về văn tự cổ điển; không phải là một ai đó xếp chữ Hán vào loại văn tự cổ điển, mà là bản thân chữ Hán thuộc về văn tự cổ điển. Việc phân kì lịch sử văn tự không phải là những đánh giá vị trí cao thấp của văn tự.
Khách: Chữ Hán cổ đại thuộc về văn tự cổ điển, có thể đồng ý; nhưng chữ Hán hiện đại không hề “cổ”, thì sao lại thuộc về văn tự cổ điển?
Chủ: “Cổ điển” là dịch từ “classic”, nguyên nghĩa là “cổ nhã, điển nhã, điển phạm”. Ví dụ: âm nhạc cổ điển. Cũng có khi dịch là “kinh điển”. Ở đây không dùng với nghĩa hẹp là “cổ đại”. Trong các văn tự cổ điển có chữ Di, cũng là một loại văn tự hiện đại. Chữ Hán cổ đại và chữ Hán hiện đại về mặt nguyên lí cấu tạo là căn bản giống nhau.
Khách: D. Diringer chia văn tự nhân loại thành 4 thời kì: văn tự đồ hình (hình vẽ), văn tự biểu ý, văn tự quá độ, và văn tự biểu âm. GS chia thành 3 thời kì (xem phần trên), lí do là thế nào?
Chủ: Diringer kết hợp cả phân kì lịch sử văn tự với loại hình văn tự, tôi thì tách riêng hai việc. Loại hình văn tự cần phân loại theo đặc điểm văn tự. Phân kì lịch sử cần phân kì theo sự thật lịch sử. Như vậy mới rõ ràng. Bản thân Diringer cũng thấy rằng thời kì quá độ kéo dài đến 3.000 năm, quan điểm “quá độ” có vấn đề.
Khách: Có người cho rằng, chữ Hán và chữ cái là hai hệ thống “song tồn” (tịnh lập), mỗi loại phát triển độc lập, không có quan hệ diễn biến qua lại. Chữ cái được sản sinh khoảng vào thời chữ giáp cốt. Hai loại không phải là hai giai đoạn một trước một sau.
Chủ: Chữ cái phát triển từ văn tự cổ điển. Trong chữ hình góc và chữ Ai Cập cổ đại có rất nhiều “chữ ý âm” do ý phù và âm phù kết hợp thành. Nếu viết tên người thì có thể chỉ dùng âm phù. Vì vậy đã phát triển thành chữ cái không dùng ý phù mà chỉ dùng âm phù. Chữ cái đã được hoài thai 2.000 năm trong lòng văn tự cổ điển thời kì sớm, rồi mới được sinh ra. Trong lịch sử văn tự, văn tự cổ điển xếp trước văn tự chữ cái, đó là thứ tự của lịch sử. Giữa thời điểm thành thục của văn tự cổ điển thời kì sớm với thời điểm thành thục của văn tự chữ cái sớm nhất cách nhau 2.000 năm. Cho nên chúng là hai giai đoạn phát triển trước sau, chứ không phải là hai hệ thống “song tồn”.
Khách: GS chia tự thể chữ Hán thành 3 loại: thể đồ hình (hình vẽ: giáp cốt, kim văn, đại triện, tiểu triện), thể bút họa (nét bút, gồm: chữ lệ, chữ khải) và thể lưu tuyến (nét nối, gồm chữ hành, chữ thảo). Vậy GS có dụng ý gì?
Chủ: Tự thể chia ba loại là hiện thực của chữ Hán, cũng là quy luật tự thể chung của tất cả các loại văn tự. Chữ hình góc thiếu thể lưu tuyến, chữ Ai Cập cổ đại thiếu thể bút họa, bởi vì công cụ sử dụng không giống nhau.
Khách: Văn tự nguyên thủy chia làm bốn gian đoạn: khắc phù [kí hiệu khắc vạch], nham họa [hình vẽ trên vách đá], văn tự họa [hình vẽ ghi chữ] và đồ họa tự [chữ nét vẽ], cách phân loại này có nguồn gốc như thế nào?
Chủ: So sánh sự sớm hay muộn trong lịch sử và lớp lang logic thì có thể thấy được cách phân chia giai đoạn như thế. Tôi mới chỉ làm một cách đại khái, chỉ có thể nói là một giả thuyết, còn phải nghiên cứu sâu hơn nữa.
Khách: Văn tự cổ điển có thể chia giai đoạn hay không?
Chủ: Có thể. Ví dụ: căn cứ theo “hình dáng của kí hiệu” (phù hình tướng) có thể chia thành văn tự “đồ phù” [kí hiệu biểu thị hình vẽ] ở thời kì sớm và văn tự “tự phù” [kí hiệu ghi chữ] ở thời kì muộn. Chữ Maya thuộc về loại trước, chữ Di thuộc về loại sau. Lịch sử của văn tự cổ điển phân kì như thế nào thì cần phải nghiên cứu sâu thêm.
5. Về những vấn đề khác.
Khách: Gần đây có người kiến nghị đổi “phổ thông thoại” [putonghua, tiếng phổ thông] thành “quốc ngữ” [guoyu]. GS thấy thế nào?
Chủ: “Phổ thông thoại” nguyên có nghĩa là: thứ ngôn ngữ tương đối phổ biến không có tiêu chuẩn nhưng mọi người đại khái có thể nghe hiểu. Khi còn trẻ, tôi hay thường nghe người ta nói: “Tôi không biết nói quốc ngữ, chỉ biết nói phổ thông thoại”. Đến năm 1955, “Hội nghị cải cách văn tự toàn quốc” đã định nghĩa về “phổ thông thoại”như sau: là ngôn ngữ chung của dân tộc Hán, lấy ngữ âm Bắc Kinh làm âm tiêu chuẩn, lấy tiếng miền Bắc làm phương ngôn cơ sở; sau đó lại bổ sung: lấy các trước tác bạch thoại điển phạm làm quy phạm ngữ pháp. Khi ấy đổi “quốc ngữ’ thành “phổ thông thoại”, lí do là để không làm cho tiếng Hán lấn át các thứ tiếng của các dân tộc thiểu số khác. Cù Thu Bạch phản đối tên gọi “quốc ngữ”, ông nói ông chỉ thừa nhận “phổ thông thoại” với tư cách là tiếng thông dụng toàn quốc tạm thời. Đài Loan không tiếp thu tên gọi “phổ thông thoại”. Singapore cũng không dùng cách nói “phổ thông thoại”. Nhưng ở Trung Quốc đại lục đã lưu hành phổ biến tên gọi “phổ thông thoại”. Những năm ấy tôi cũng không tán thành cách đổi tên; nhưng đã đổi rồi, thì tôi không tán thành đổi lại nữa. Đổi đi đổi lại thì không cần thiết, bởi có thể nảy sinh những rối loạn ngoài dự tính. “Quốc ngữ” là một “thông danh” (tên gọi chung), chứ không phải “chuyên danh” (tên gọi riêng). Nhật Bản có “quốc ngữ” của Nhật Bản; Việt Nam có “quốc ngữ” của Việt Nêm; “quốc ngữ” của Singapore là tiếng Malai, tiếng nói chung của người Hoa gọi là “Hoa ngữ” (tiếng Hoa), Singapore không thể tiếp nhận một thứ “quốc ngữ” khác. Nếu chỉ nói “quốc ngữ” thì không biết là trỏ thứ “quốc ngữ” nào. “Hoa ngữ” là chuyên danh, có thể đứng ngang hàng với các chuyên danh như Anh ngữ, Pháp ngữ, Nhật ngữ…, “quốc ngữ” thì không thể như vậy. Nếu phải đổi tên thì tốt nhất là đổi thành “Hoa ngữ”. Tên gọi “Hoa ngữ” đã bắt đầu được Hoa kiều ở Singapore và hải ngoại sử dụng. “Hoa ngữ” là tiếng nói chung của người Hoa trên toàn thế giới. “Hoa ngữ” có tính “nhận đồng” rộng nhất.
Khách: Nên chăng dùng tên gọi “Hán ngữ”?
Chủ: “Hán ngữ” bao gồm cả phương ngôn, “Hoa ngữ” chuyên chỉ tiếng nói chung (“phổ thông thoại”).
Khách: GS đề xướng văn tự học so sánh là có mục đích gì?
Chủ: Có hai mục đích. Một: văn tự học bắt nguồn từ Trung Quốc, là một đặc sắc của văn hóa Hoa Hạ, cần phải phát huy cho lớn mạnh, không nên bo bo thu mình. Nếu chỉ nghiên cứu lịch sử của một nước thì sử học sẽ không hoàn bị. Nếu chỉ nghiên cứu một loại văn tự thì văn tự học sẽ không hoàn bị. Con mắt học thuật cấn phải mở rộng. Hai: nếu muốn nhìn rõ tính chất của chữ Hán và vị trí lịch sử của nó trong số rất nhiều văn tự trên thế giới thì cần phải nghiên cứu văn tự học so sánh. Tôi hi vọng người ta sẽ mở một môn “Lịch sử phát triển văn tự thế giới” trong chương trình đại học của Trung Quốc.
Khách: GS đề xuất “mức biểu âm hữu hiệu của thanh bàng” (thanh bàng hữu hiệu biểu âm suất), đã mở ra một con đường mới cho việc nghiên cứu âm đọc chữ Hán. Nhưng tại sao GS coi những yếu tố “không phải thanh bàng” (phi thanh bàng) là thanh bàng?
Chủ: Bởi vì, kết quả mà tôi cần đạt được là “mức biểu âm hữu hiệu” của “tất cả” chữ Hán hiện đại, chứ không chỉ là “mức biểu âm hữu hiệu” của một hình “chữ hình thanh”. “Mức biểu âm hữu hiệu” của “toàn bộ” chữ Hán hiện đại thì có tính thực dụng. Người Trung Quốc và người nước ngoài học chữ Hán thường hỏi: trong toàn bộ chữ Hán hiện đại có bao nhiêu phần trăm có thể tự biểu âm?
Khách: GS chia âm đọc của tiếng Hán hiện đại thành hai lớp: không kể thanh điệu và khu biệt thanh điệu. Về sau các nhà nghiên cứu phát triển thành năm lớp “Hán tự biểu âm độ” (mức độ biểu âm của chữ Hán). Có người nói, đây là bước phát triển mới của âm vận học chữ Hán.
Chủ: “Hán tự biểu âm độ” có giá trị học thuật. “Mức biểu âm hữu hiệu” của tôi chỉ là lí giải mang tính thực dụng.
Khách: Việt Nam và Triều Tiên không dùng chữ Hán, Nhật Bản và Hàn Quốc giảm thiểu chữ Hán. Vòng văn hóa chữ Hán (Hán tự văn hóa khuyên) bị thu hẹp có hay không ảnh hưởng đến trong nước Trung Quốc, để cuối cùng khiến cho chữ Hán tiêu vong? Có người đề xuất “Luận thuyết về nguy cơ của chữ Hán” (Hán tự nguy cơ luận).
Chủ: Ngoài nước Trung Quốc, thì chữ Hán đang thu hẹp lại; trong nước Trung Quốc, chữ Hán đang mở rộng. Người biết chữ trong nước trước vốn rất ít, nay đang tăng dần lên đến đại đa số trong 1,3 tỉ dân. “Luật ngôn ngữ văn tự” đang ra sức mở rộng chữ Hán quy phạm. “Hán tự nguy cơ luận” chỉ là kiểu “người nước Kỉ lo trời sập”, không thực tế.
Ngày 27 tháng 10 năm 2005, tác giả Chu Hữu Quang khi ấy 100 tuổi.

Dịch từ: tạp chí Quần ngôn, số 1 năm 2006, trang 38-40.
Nguyễn Tuấn Cường dịch, tháng 7 năm 2006

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét